Hiến chương

HIẾN CHƯƠNG

MINH LÝ ĐẠO TAM TÔNG MIẾU.

---------------------------------------------

LỜI NÓI ĐẦU

Trong lịch sử trên 4.000 năm lập quốc, nước Việt Nam do địa thế thuận lợi là nơi giao lưu của hai luồng văn hóa lớn nhứt Á Châu là văn hóa Ấn Độ và văn hóa Trung Hoa, nên tôn giáo dân tộc Việt Nam đã chịu ảnh hưởng sâu xa của:

1/ Phật giáo: chủ trương minh tâm kiến tánh,

2/ Lão giáo: chủ trương tu tâm luyện tánh,        

3/ Nho giáo: chủ trương tồn tâm dưỡng tánh.

Người Việt Nam khéo dung hòa, tổng hợp các triết lý hợp với dân tộc mình, làm thành kim chỉ nam để cư xử giữa nhau trong cuộc chung sống hàng ngày và làm phương châm để tu thân phục vụ Đời và Đạo. Tại Việt Nam ba tôn giáo Phật - Lão - Nho hòa hiệp lẫn nhau, kết tinh thành một khối tín ngưỡng, hun đúc một nền tập quán, phong tục có sắc thái đặc thù của người Việt (truyền thống yêu nước thương nòi, tôn sư trọng Đạo). Chính vì thế mà dưới các triều vua Lý, Trần, nước ta đã có mở các khoa thi Tam giáo để tuyển chọn nhân tài ra giúp nước.

Hưởng ứng phong trào chấn hưng đạo đức trong những năm 1920, một số công tư chức Việt Nam, hữu tâm hướng đạo đã cố công nghiên cứu, tìm hiểu giáo lý Phật - Lão - Nho và được Thượng Đế cùng các Đấng Thiêng Liêng dùng huyền cơ diệu bút chỉ dẫn, hình thành một Đạo mới cho dân tộc Việt Nam nói riêng và nhân loại nói chung.

Đó là MINH LÝ ĐẠO.

         Minh Lý Đạo ra đời năm 1924, với chủ trương là:

             - Tổng hợp tinh hoa giáo lý của Phật - Lão - Nho làm một, để theo đó mà tu hành, độ mình, độ thế (qui nguyên Tam Giáo, tự độ, độ tha).

             - Minh Lý Đạo Tam Tông Miếu chỉ dùng bài vị nêu hồng danh Phật, Tiên để thờ cúng, chiêm ngưỡng, chớ không dùng hình tượng.

             - Dùng tiếng Việt để tả Kinh và tụng niệm.

Vâng lệnh Ơn Trên, Ngài Định pháp Nguyễn Minh Thiện (1897-1972), một trong sáu vị khai sáng Minh Lý Đạo Tam Tông Miếu đã phế bỏ việc đời để chuyên tâm lèo lái mối Đạo. Ngài kết tập Thánh ngôn, viết sách, dịch kinh, trùng tu Thánh Sở, xây dựng Bác Nhã Tịnh đường, mặc khải xây dựng Thánh Miếu Long An hướng dẫn môn sanh theo con đường chánh nghĩa chơn tu đúng theo chơn truyền Đạo pháp của Minh Lý mà Ơn Trên đã dạy bày.

Minh Lý Đạo Tam Tông Miếu được tổ chức như một Hội Thánh để tu hành, góp phần phục vụ dân tộc, xây dựng hòa bình, an lạc cho Tổ quốc và trên thế giới, đồng thời liên giao hành đạo với các Tôn Giáo khác trong tinh thần Bình Đẳng, Cộng Tác, Hòa Ái.

Minh Lý Đạo Tam Tông Miếu hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và Luật pháp của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

CHƯƠNG I

TÊN CỦA TỔ CHỨC, BIỂU HIỆU, TIÊU NGỮ.

Điều 1: Tên của tổ chức

Danh hiệu của tổ chức tôn giáo là: MINH LÝ ĐẠO TAM TÔNG MIẾU (gọi tắt là MINH LÝ ĐẠO)

Điều 2: Biểu hiệu

          Biểu hiệu của MINH LÝ ĐẠO như hình vẽ dưới đây:

h1

    • Một hình tam giác đều màu trắng, ở trong có một vòng tròn nhỏ và một chấm ở chính giữa, tượng trưng Thượng Đế ba ngôi.
    • Dựa trên hình tam giác là ba vòng tròn lớn. Vòng tròn lớn màu vàng tượng trưng Phật giáo; Vòng tròn lớn màu đỏ tượng trưng Nho giáo; Vòng tròn lớn màu xanh tượng trưng Lão giáo.
    • Có ba chia màu đen rất ngay thẳng xuất phát từ vòng tròn nhỏ chính giữa đi ra, tượng trưng cho công bình, phân minh, chính trực.

Điều 3: Tiêu ngữ

          Tiêu ngữ của Minh Lý Đạo là: Bình đẳng – Cộng tác – Hòa ái

CHƯƠNG II

TÔN CHỈ, MỤC ĐÍCH, NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG, NGHI LỄ

Điều 4: Tôn chỉ

Minh Lý Đạo có tôn chỉ dựa theo giáo lý của Tam giáo, Phật - Lão - Nho mà thi thiết giới quy, giới luật; dung hòa mọi tín ngưỡng, xu hướng cộng đồng, cùng học thuyết Đông Tây kim cổ, mở rộng tình thương, không phân chia màu sắc địa phương, nhằm hoằng dương chánh pháp, phục vụ nhơn sanh trên cương lãnh từ bi, giác ngộ và giải thoát.

Điều 5: Mục đích

Mục đích của Minh Lý Đạo là hiệp nhứt tinh hoa của ba tôn giáo lớn ở phương Đông là Phật - Lão - Nho để tìm lại cội nguồn là Đạo, để từ đó mà tu hành, tự độ, độ tha, góp phần cứu khổ nhơn sanh, xây dựng hòa bình, an lạc cho Tổ quốc và nhân loại.

 

Điều 6: Nguyên tắc hoạt động

Nguyên tắc hoạt động của Minh Lý Đạo theo lập trường là thuần túy tu hành, đem Đạo độ Đời mà không xen lẫn ý tư riêng của việc đời vào việc Đạo. Minh Lý Đạo hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và Luật pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Điều 7: Hình thức thờ cúng tại Thánh sở TAM TÔNG MIẾU

Việc thờ phượng của Minh Lý Đạo được sắp xếp tại Thánh sở TAM TÔNG MIẾU như sau:   

* Trên Chánh Điện: (từ trong nhìn ra)

Ngay giữa Bửu Điện là Thiên Bàn có 5 cấp:

1. Cấp thứ nhất: 1 bài vị thờ DIÊU TRÌ KIM MẪU

2. Cấp thứ  hai: 2 bài vị   

Bên phải là bài vị  thờ NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ

Bên trái là bài vị thờ HỒNG QUÂN LÃO TỔ

3. Cấp thứ  ba: 3 bài vị thờ Tam Giáo Tổ Sư

Ở giữa là         TÂY PHƯƠNG PHẬT TỔ.

Bên phải là      THÁI THƯỢNG LÃO QUÂN.

Bên trái là        VĂN TUYÊN KHỔNG THÁNH.

4. Cấp thứ  tư: 4 bài vị thờ Tứ Đại Bồ Tát

ĐỊA TẠNG BỒ TÁT

VĂN THÙ BỒ TÁT

PHỔ HIỀN BỒ TÁT

QUAN ÂM BỒ TÁT

        5. Cấp thứ  năm: 5 bài vị thờ Ngũ đại tinh quân           

                                         NAM ĐẨU TINH QUÂN

                                     ĐÔNG ĐẨU TINH QUÂN

                           TÂY ĐẨU TINH QUÂN 

                                      BẮC ĐẨU TINH QUÂN

                                     TRUNG ĐẨU TINH QUÂN 

 Thêm hai bài vị chung sau nầy:

          LÔI ÂM CHƯ PHẬT  & BỒNG LAI CHƠN TIÊN

               (tượng trưng cho giải thoát và triền phược)

  Như vậy là cấp 5 có tất cả  là 7 bài vị .

Tất cả  các bài vị bày trên thiên bàn, nhìn tổng thể, tạo thành một hình tam giác, mà ngôi của Tây Phương Phật Tổ (tức Thích Ca Mâu Ni) ở chính giữa, ngay ngọn đèn Lưu ly treo tại Bửu điện (tiêu biểu cho Trung đạo).

* Ngoài ra:

  • Bên trái Bửu Điện có bàn thờ Đức ĐỊA MẪU TỪ TÔN, là nơi dành cho Nam giới hầu lễ.
  • Bên phải Bửu Điện có bàn thờ LỊCH ĐẠI TỔ TIÊN, để thờ các vị tiền bối khai sáng mối Đạo, là nơi dành cho Nữ giới hầu lễ.
  • Hai bên hông đối mặt nhau :
    • Bên phải có bàn thờ THANH PHƯỚC CHÁNH THẦN.
    • Bên trái có bàn thờ THẬP ĐIỆN DIÊM VƯƠNG.
  • Đối mặt với Thiên Bàn có hai bàn thờ:
    • Ở phía trong:  thờ LONG THẦN HỘ PHÁP.
    • Ở phía ngoài:  thờ MÔN QUAN THỔ ĐỊA.

Điều 8: Hình thức thờ cúng tại các Thánh miếu, Thánh xá, tư gia

* Tại các Thánh miếu:

          Trên tường, ngay giữa Bửu Điện có treo một tấm gương tròn tượng trưng cho ngôi VÔ CỰC tức là Thượng Đế.

Thiên Bàn có 3 bài vị thờ Tam Giáo Tổ Sư

Ở giữa là TÂY PHƯƠNG PHẬT TỔ.

Bên phải là THÁI THƯỢNG LÃO QUÂN.

Bên trái là VĂN TUYÊN KHỔNG THÁNH.

Đối mặt với Thiên Bàn có hai bàn thờ:

- Ở phía trong: thờ  LONG THẦN HỘ PHÁP.

- Ở phía ngoài: thờ MÔN QUAN THỔ ĐỊA.

* Tại các Thánh xá, tư gia

Tại các Thánh xá, tư gia các môn sanh (tùy theo điều kiện) có lập trang thờ bài vị TAM GIÁO ĐẠO CHỦ ở trên cao và bên dưới có thờ bài vị HỘ MẠNG THẦN QUAN.

Điều 9: Các ngày lễ, thiền tịnh

  • Hàng ngày, có 4 thời cúng tại Tam Tông Miếu, Bác Nhã Tịnh Đường và các Thánh miếu:

    - Sáng :         06 giờ 00  (Mẹo thời)

    - Trưa :         11 giờ 00  (Ngọ thời)

    - Chiều:       18 giờ 00  (Dậu thời)

    - Tối:           23 giờ 00  (Tý thời)

  • Hàng tháng, vào hai ngày Sóc - Vọng, các môn sanh và thiện nam tín nữ đồng chung hiệp tại Thánh sở hoặc Bác Nhã Tịnh đường, Thánh miếu, Báo Ân từ để dâng hương cầu an cho bá tánh.
  • Trong các tiết Xuân phân, Hạ chí, Thu phân, Đông chí, tại Thánh sở, Bác Nhã Tịnh đường, Thánh miếu, Thánh xá, có mở những khóa học và thực hành thiền tịnh, khí công cho toàn thể tín đồ, môn sanh. Thời gian học tập được ấn định như sau:

- Tiết Xuân phân: 11 ngày(trong khoảng nửa cuối tháng 3 dương lịch) 

- Tiết Hạ chí: 09 ngày(trong khoảng nửa cuối tháng 6 dương lịch) 

- Tiết Thu phân: 13 ngày(trong khoảng nửa cuối tháng 9 dương lịch) 

- Tiết Đông chí: 07 ngày(trong khoảng nửa cuối tháng 12 dương lịch).

Ngoài ra, còn có các khóa thiền tịnh cầu an mỗi tháng (7 ngày) tại các địa điểm nêu trên.

  • Hàng năm, Hội thánh có các lễ cúng khác tại Thánh sở, Bác Nhã Tịnh đường, Thánh miếu, Thánh xá, Báo Ân từ như sau:

          1/ Ngày 8,9/Giêng/Âm lịch: Vía Ngọc Hoàng Thượng Đế và cúng giải hạn nhương tinh.

          2/ Ngày 14, 15/Giêng/Âm lịch: Thượng nguơn Lễ cúng Thiên quan tứ phước.

          3/ Ngày 14/2/Âm lịch: Lễ Vía Đức Thái Thượng Lão Quân.

          4/ Ngày 14/4/Âm lịch: Lễ Vía Đức Thích Ca Phật Tổ.

          5/ Ngày 15/5/Âm lịch: Lễ tưởng niệm Đức Vạn hạnh Thiền Sư.

          6/ Ngày 6/7/Âm lịch: Lễ Vía Đức Hồng Quân Lão Tổ.

          7/ Ngày 14,15/7/Âm lịch: Trung Nguơn Lễ Địa Quan xá tội.

          8/ Ngày 17/7/Âm lịch: Lễ Vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu.

          9/ Ngày 8/8/Âm lịch: Lễ tưởng niệm Đức Hà Tiên Cô.

        10/ Ngày 20/8/Âm lịch: Lễ tưởng niệm Đức Hưng Đạo Đại Vương.

        11/ Ngày 26/8/Âm lịch: Lễ Vía Đức Văn Tuyên Khổng Thánh.

        12/ Ngày 14,15/10/Âm lịch: Hạ nguơn Lễ Thủy Quan giải ách.    

        13/ Ngày 15/11/Âm lịch: Giỗ Hội – Các vị tiền hiền và Minh Lý môn sanh quá vãng.

        14/ Ngày 16/11/Âm lịch: Lễ Vía Đức A Di Đà Phật và Lễ tưởng niệm Đức Bác Nhã Thiền Sư.

        15/ Ngày 26/11/Âm lịch: Lễ kỷ niệm Minh Lý Đạo Khai (ngày chánh 27/11/Âm lịch).

        16/ Ngày 23/12/Âm lịch: Lễ Tư Mạng Táo Quân triều thiên và đưa thần.

        17/ Ngày 29, 30/12/Âm lịch: Lễ rước ông bà (ở Hậu đường), lễ rước Tư Mạng Táo Quân và chư Thần hồi vị, Lễ cúng giao thừa, tế Trời và Cầu an.

        Ngoài ra, có những lễ không thường xuyên như:

                - Lễ nhập môn hay lễ nhập tự.

                - Lễ cúng cầu siêu cho người mới từ trần.

                - Lễ cúng cầu siêu tuần thất, bá nhựt, tiểu tường, đại tường.

               - Lễ hôn phối.

               - Lễ cầu lành bệnh.

 

Điều 10: Lễ phẩm

- Trên Chánh Điện: Lễ phẩm là hương, đăng, hoa, quả, trà, rượu;

- Dưới Hậu đường: Lễ phẩm ngoài hương, đăng, hoa, quả, trà, rượu còn cúng cơm chay; nghiêm cấm dùng các thực phẩm có nguồn gốc động vật.

Điều 11: Giáo lý, kinh sách, giới luật

Về giáo lý, Minh Lý Đạo rút tinh hoa Tam giáo Phật-Lão-Nho làm căn bản. Ngoài ra, Minh Lý Đạo cũng nghiên cứu các học thuyết Đông Tây, xưa và nay làm một chương đạo học tự tu, tự độ để độ dẫn nhơn sanh.

Nền tảng giáo lý Minh Lý Đạo dựa trên:

  • Kinh: 5 Bộ Kinh tụng (Bố Cáo, Sấm Hối, Tịnh Nghiệp Vãn, Nhựt Tụng, Giác Thế).
  • Luật: Giới luật và hình phạt, Tứ Đại điều qui, Nhị thập tứ điều. 
  • Luận: Minh Lý Yếu Giải, Minh Lý Học Thuyết, Minh Lý Chơn Giải,.. do Ngài cố Định pháp Tổng lý Nguyễn Minh Thiện biên soạn và kết tập đại thành, cùng với Đạo Đức Kinh, Viên Giác Kinh, Trung Dung, … do Ngài Việt dịch.

Điều 12: Giới đàn cầu sự

Giới đàn cầu sự là hình thức nghi lễ trong đạo được cử hành để cho thiện nam, tín nữ có đủ điều kiện hành trì các giới luật chế lập dành cho tín đồ, môn sanh và chức sắc đã được ấn định trong giới luật như sau:

Tín đồ: Ăn chay 6 ngày/tháng.

Môn sanh: Ăn chay từ 6, 10 ngày đến Tam ngươn trai.

Chức sắc (giáo sư trở lên): Ăn trường trai và giữ thanh tịnh giới.

Điều 13: Tang sự

Khi trong bổn đạo có tang sự hoặc cần đến cầu an, Viện Hành đạo, Quản lý Chi đạo hoặc người đứng đầu Cơ sở đạo có nhiệm vụ triệu tập đồng đạo đến để thiết lễ lo tang sự, cúng thất, bá nhựt, cúng tiểu tường (giáp năm), cúng đại tường (mãn tang) và cầu siêu hoặc cầu an cho bổn đạo. Trong lễ cúng phải dùng toàn thực phẩm chay.

Nếu có vị môn sanh, tín đồ qua đời mà gia đình không có điều kiện tống táng hoặc chi phí cúng kính thì Viện Hành đạo, Quản lý Chi đạo hoặc người đứng đầu Cơ sở đạo tại địa phương có trách nhiệm đề xuất quỹ Hội Thánh hỗ trợ chăm lo chu toàn tang sự.

Điều 14: Lễ cầu an, sám hối

Cầu an, cầu siêu hoặc lễ Minh Lý Đạo khai, vía các chư tổ sư tại Thánh sở, Bác Nhã Tịnh đường, Thánh miếu, Thánh xá, Báo Ân từ thì tập thể môn sanh, tín đồ xa gần phải tề tựu về một trong các nơi nêu trên dự lễ, làm việc công đức.

Bổn đạo ở trong nội thành (khoảng cách dưới 10 km), mỗi năm phải đến cúng cầu an và sám hối không được dưới 10 lần. Người bổn đạo ở ngoại thành mỗi năm phải đến chùa cúng cầu an và sám hối không được dưới 04 lần. Hàng chức sắc, dầu ở trong hay ngoại thành, đều phải đi cúng cầu an và sám hối ít nhất cũng bằng người bổn đạo ở trong nội thành. Trường hợp ngoại lệ (tùy hoàn cảnh cụ thể của môn sanh) sẽ do Viện Hành Đạo quy định.

Điều 15: Đạo phục

Đạo phục Minh Lý Đạo là màu đen và trắng.

  • Nam: Áo dài đen, áo trong màu trắng, quần trắng, khăn đóng đen.
  • Nữ: Áo dài đen, áo trong màu trắng, quần đen (trong các khóa tịnh thiền mặc quần trắng).

Áo dài đen có hai kiểu:

          a/ Tay chẹt để dùng trong các lễ cúng và học ở hậu đường, tiếp khách, liên giao.

          b/ Tay rộng để dùng cúng lễ tại chánh điện. Các môn sanh được ân phong, phải mang hài.

Các vị môn sanh xuất gia nhập tự: xuống tóc, bên trong mặc bộ đồ màu trắng, bên ngoài mặc áo tràng màu đen.

CHƯƠNG III

ĐỊA BÀN HOẠT ĐỘNG, TRỤ SỞ CHÍNH

Điều 16: Địa bàn hoạt động

Minh Lý Đạo có địa bàn hoạt động ở các tỉnh thành, nơi có cơ sở thuộc Minh Lý Đạo Tam Tông Miếu.

Điều 17: Trụ sở chính và các cơ sở trực thuộc

- Trụ sở chính hành đạo ở trung ương là Thánh sở TAM TÔNG MIẾU, tọa lạc tại số 82 đường Cao Thắng, Phường 4,  Quận 3, TP. Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, Minh Lý Đạo có:

- Bác Nhã Tịnh đường tọa lạc tại 765 Võ Thị Sáu (số 2 Ô 2), Tổ 2, Khu phố Hải  Lộc, Thị trấn Long Hải, Huyện Long Điền, Tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.

- Báo Ân Từ - Tam Tông Miếu, tọa lạc số 445/20 đường Lạc Long Quân, Phường 5, Quận 11, TP.Hồ Chí Minh.

- Thánh Miếu Long An, xã Lợi Bình Nhơn, Tp Tân An, Tỉnh Long An.

- Các Thánh Miếu, Thánh xá và Cơ sở đạo.

CHƯƠNG IV

TÀI SẢN, TÀI CHÁNH

Điều 18: Tài sản, tài chánh

Tài sản của Minh Lý Đạo là động sản, bất động sản và tài sản khác hợp pháp, gồm có:

1. Động sản

          - Nguyệt liễm các môn sanh đóng góp.

          - Tiền mặt, các tài sản có giá trị như tiền bạc do tín đồ, môn sanh Minh Lý Đạo hoặc do các cá nhân hay tập thể hợp pháp hiến cúng, di tặng.

2. Bất động sản:

Tất cả các hiện vật như: cơ sở thờ phượng là Tam Tông Miếu, Thánh Miếu, Thánh xá, Cơ sở đạo, Bác Nhã Tịnh đường, Thánh miếu Long An, Báo Ân từ và các cơ sở vật chất khác, hiện vật do tín đồ, môn sanh Minh Lý Đạo xây dựng, tạo mãi hợp pháp, hoặc do cá nhân hay tập thể hợp pháp hiến cúng, di tặng theo quy định của pháp luật.

3. Tài sản có giá trị về sở hữu trí tuệ (Kinh, sách, Thánh ngôn, . . .), văn hóa, lịch sử, . . . được lưu trữ tại thư viện và các phòng khác thuộc Tam Tông Miếu.

Điều 19: Sổ sách tài sản, tài chánh

Sổ sách chứng minh tài sản và tài chánh của Hội thánh, Chi đạo, Cơ sở đạo gồm có:

a/ Sổ thống kê tài sản của Minh Lý Đạo.

b/ Sổ thu nhập.

c/ Sổ xuất chi.

d/ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, họa đồ xây cất, di dời…

CHƯƠNG V

NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT, MẪU CON DẤU

Điều 20: Người đại diện theo pháp luật

Chưởng quản của  Hội đồng Hội thánh là vị Định pháp (hoặc Tổng lý) là người đại diện theo pháp luật, thay mặt cho Minh Lý Đạo chịu trách nhiệm pháp lý trước Nhà nước, trực tiếp quản lý, điều hành các hoạt động của Hội thánh.

Điều 21: Tổ chức được khắc con dấu, mẫu con dấu

  • Minh Lý Đạo-Tam Tông Miếu và các cơ sở  trực thuộc của Minh Lý đạo được khắc và sử dụng con dấu theo quy định của pháp luật.

Hội thánh, Bác Nhã Tịnh đường, Long Hoa Học viện và các Chi đạo có khuôn dấu pháp lý sử dụng trong đạo và ngoài xã hội.

Viện Bảo đạo, Viện Hành đạo có khuôn dấu riêng để sử dụng nội bộ.

  • Mẫu con dấu: Khuôn mẫu con dấu hình tròn.

* Vòng ngoài đề: MINH LÝ ĐẠO TAM TÔNG MIẾU, huy hiệu là 2 hình tam giác chồng tréo ngược chiều thành một ngôi sao 6 nhánh. Chính giữa ngôi sao có một  vòng tròn nhỏ   .

* Vòng trong:

  • Cấp Hội thánh có hàng chữ: Hội thánh

  • Cấp cơ sở có hàng chữ: Bác Nhã Tịnh Đường, Chi đạo (tên Chi đạo),

DAU - BNTDLH New PNG

 

 

 

 

05- DAU LONG HOA HV New PNG

 

DAU - CD LONG AN New png

 

Điều 22: Sử dụng con dấu

Con dấu là tài sản chung của Minh Lý Đạo: Hội Thánh, Bác Nhã Tịnh Đường, Long Hoa Học Viện, các Chi đạo, . . .

Người đứng đầu các tổ chức thuộc Minh Lý Đạo (Hội đồng Hội thánh, Bác Nhã Tịnh Đường, Long Hoa Học Viện, các Chi đạo, . . .) có trách nhiệm quản lý, sử dụng con dấu.

a/ Quản lý con dấu:

-  Cấp Hội Thánh: Một thành viên trong Ban Quản trị được sự ủy nhiệm của Viện Hành đạo.

-  Cấp tổ chức cơ sở: Trưởng tổ chức cơ sở trực thuộc Hội thánh (Tịnh Đường, Chi đạo, Học viện) hoặc một thành viên khác trong tổ chức cơ sở được cấp Trưởng tổ chức cơ sở ủy nhiệm và được sự chấp thuận của Viện Hành đạo.

b/ Sử dụng con dấu: Các vị chưởng quản (Tổng Lý, Hiệp Lý, Chủ trì, Quản lý các Vụ, Trưởng ban Quản trị) ở cấp Hội Thánh; hoặc Tịnh chủ, Viện trưởng, Quản lý Chi đạo ở cấp cơ sở là người được sử dụng con dấu trong quan hệ tương ứng với nhiệm vụ theo quy định của Hội Thánh trong Hiến Chương.

Ngoài ra, có thể ủy nhiệm thêm:

  • Cấp Hội Thánh: Phó Ban Quản trị hoặc các thành viên khác trong Hội Đồng Hội Thánh theo đề nghị của Viện Hành đạo và được sự chấp thuận của Hội Đồng Hội Thánh.
  • Cấp tổ chức cơ sở là: Các cấp Phó được cấp Trưởng (nêu trên) đề nghị ủy nhiệm và được sự chấp thuận của Viện Hành đạo.

Việc cấp mới, thay đổi con dấu và giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu của các cấp trong Minh Lý Đạo tuân thủ theo quy định pháp luật hiện hành.

 

Top