CẢM ỨNG LUẬN PHẦN 2

CHƯƠNG THỨ NHÌ

CHỈ RÕ LÝ CẢM ỨNG TRONG HAI ĐƯỜNG THIỆN ÁC

   I. NHỮNG ĐIỀU LÀNH NÊN CHỨA.

Đức Thái Thượng có ghi trong Kinh Cảm ứng những điều lành nên chứa kể sơ ra sau này:

  1. Thị đạo tắc tấn, phi đạo tắc thối (đường phải thì tới, đường chẳng phải thì lui) - Thuận lẽ Trời, hạp lòng người là đường phải, khá sốt sắng bước lên; nghịch lẽ Trời, trái lòng người là đường chẳng phải, nên sợ mà xa lánh.
  2. Tích đức lũy công, từ tâm ư vật (chứa đức bồi công, lòng thương súc vật) – Điều lành còn ở trong lòng thì gọi là đức, khi đem ra thi hành rồi thì gọi là công. Thường tu đức, thường lập công, không lòng giải đãi thì đạo tâm mới vững vàng. Còn từ bi là cội rễ muôn lành. Người muốn chứa đức bồi công, chẳng những thương người mà thôi, cũng phải gồm thương đến súc vật nữa.
  3. Trung hiếu hữu đễ, chánh kỷ hóa nhơn (thảo ngay với vua, cha, hòa thuận cùng anh em, sửa mình ngay rồi sau mới chỉ dạy người được) – Làm tôi phải ngay, làm con phải thảo, làm anh phải hòa, làm em phải thuận. Suy ra từ khi con người biết lo cang thường luân lý, thì xưa nay náo Trời Đất, động quỉ thần, cảm hóa đến thú cầm thảo mộc, vẫn có một cái chí tánh (tánh tột ngay tột thảo) này được ứng đối như dùi với trống[1] mà thôi. Cho nên lấy đó làm giềng mối các việc lành, làm căn bổn để tu thân. Nếu mình chưa noi lẽ phải, chế lòng tà, mà muốn cho người khác chừa dữ làm lành, dầu có quở phạt ép bức thế nào, thì cũng chẳng ai vâng chịu.
  4. Tế nhơn chi cấp, cứu nhơn chi nguy (trợ người trong việc gấp gảy, cứu người đương lúc hiểm nguy) - Những việc gấp gảy là như thuốc men khi có người đau ốm, chôn cất khi có người mãn phần, áo cơm khi có người đói lạnh. Những lúc hiểm nguy là lúc chết sống nội trong giây phút, tánh mạng như chỉ mành treo chuông, tỉ như té sông, chìm ghe, cháy nhà v.v… Chẳng cần người quen biết cùng không quen biết, kẻ thân hay là người thù, hễ thấy gấp thì trợ, thấy nguy thì cứu, chớ đừng viện lẽ không can phạm đến mình mà điềm nhiên tọa thị.
  5. Thọ nhục bất oán, thọ sủng nhược kinh (bị người nhục mà không oán giận, đặng người yêu mà lòng như sợ) - Người bị kẻ khác nhục mạ mà chịu không nổi, thì thế nào cũng nói: Nó là đứa tiểu nhơn vô lễ. Nếu biết nó là tiểu nhơn thì mình phải lấy cách quân tử mà đối đãi với nó. Nếu tranh giành với nó thì trên thế lại thêm một đứa tiểu nhơn nữa. Phải ráng gìn lòng khoan dung đại độ để cảm hóa kẻ hung bạo hoành hành. Tồn tâm như thế mới là mong hưởng đại  phước đức. Còn đặng người yêu mà ban cho lộc vị danh lợi cao trọng thì lại e sợ không đủ tài đức mà đương lấy trách nhiệm, chẳng vì đó mà sanh thói kiêu căng, thì phước lại càng gia tăng thập bội.
  6. Thi ân bất cầu báo, dữ nhơn bất truy hối (làm ơn không trông trả, cho người chẳng nghĩ tiếc) - Đấng quân tử thường hay tế trợ người. Ai hiểu rõ đạo lý rồi, tự nhiên cũng phải vậy, chớ chẳng phải vì danh vì lợi như kẻ thường nhơn mà mong báo đáp. Cho rồi mà nghĩ tiếc, chẳng những ngày sau không còn cho ai được, mà e còn muốn đoạt của thiên hạ nữa.

  Những điều lành nên chứa rất nhiều, khó mà kể ra cho toàn tất. Cần ích hơn hết là phải biết ở đời này không có điều lành nào nhứt định, là tuyệt đối cả. Tỉ như lòng thương súc vật là một điều lành đã kể trên, mà đến khi gặp con thú dữ nó làm hại thiên hạ thì còn nói phải thương mà không giết nó hay không? Tỉ như thí thuốc cứu bệnh, mà nếu mình không rõ chứng bệnh, không biết tánh thuốc, cho người ta uống vào phải đau thêm thì còn nói cứ thí thuốc mãi không? Mỗi người phải tùy theo cảnh ngộ, địa vị, học thức của mình mà hành động, sao đặng chỗ lợi ích cho chúng sanh, thêm phần tiến hóa cho nhơn loại, mới là đạt tới mục đích của điều lành vậy.

   II. LÀM LÀNH SẼ GẶP PHƯỚC.

Sau khi chỉ rõ những điều lành nên chứa, đức Thái Thượng dạy rằng: Kẻ làm lành như thế sẽ đặng các việc tốt sau nầy:

  1. Nhơn giai kỉnh chi (người đều kính trọng hạng người ấy) – Điều lành ấy là lẽ công chánh của Trời phú cho mỗi người đồng có đủ. Người giữ được trọn lẽ công chánh đó thì trên từ bậc quan viên, chức sắc, dưới tới kẻ dân dã quê mùa, không ai chẳng kính mến như thần minh. Câu nói sau này cũng đồng một ý đó:  “Nhứt nhựt khắc kỷ phục lễ, thiên hạ qui nhân diên”, nghĩa là: Một ngày kia thắng nổi dục vọng của mình mà đem bổn tánh về chánh lễ, thì người ta trong thiên hạ khen cho mình là nhân. Chữ nhân này nghĩa là nhơn cách hoàn toàn (chỉ bậc thánh hiền).
  2. Thiên đạo hựu chi ( đạo Trời  hộ giúp họ) – Đạo Trời không quen biết ai, thường gần người lành mà thôi. Hoặc là tinh trung thấu đến mặt nhựt như Châu Công, hoặc là thuần hiếu động thiên đình như Đổng Vĩnh, đến khi lâm nạn đều có Trời giúp. 
  3. Phước lộc tùy chi (phước lộc theo bên họ). –  Phước là sự may mắn lành tốt, lộc là chỉ tiền của tước quyền. Theo bên họ, nghĩa là: Họ không cầu, không vụ tưởng tới mà tự nhiên có.

Số là thiên tước[2] tu, thì nhơn tước có một bên, thiện khí theo mình, cũng như hình có bóng, tiếng có tiếng dội, tự nhiên như nhiên, mình không hay biết.

Chúng tà viện chi (các tà ma xa lánh họ). – Yêu bất thắng đức, cũng như người ta thường nói: Tà bất cảm chánh. Người lành chánh khí đủ đầy, thì tà ma chẳng dám xâm phạm đến, phải dang ra xa, tỉ như mặt trời mọc lên cao thì bóng tối nào mà không tiêu diệt.

Thần linh vệ chi (các thần minh phò trì họ).- Thần minh chỉ nể vì người trung hiếu, khâm phục người ngay thẳng, thương mến người hiền lương, tôn trọng người đạo đức, cho nên chẳng gặp người lành nào mà không cần lo bảo hộ. Xưa nay người chứa đức chẳng gặp thủy tai, hỏa tai, đao binh, dầu có gặp cũng việc dữ hóa hiền, tai qua nạn khỏi.

Bọn tà đạo chẳng dùng đức, chỉ dùng phép mà sai khiến thần thánh. Sai khiến không chắc được, mà sợ phải mắc tội là khác. Phép chánh đạo chỉ lấy đức mà cảm thần thánh, dầu không kêu thần thánh chớ thần thánh cũng đến, dầu không cầu thần thánh chớ thần thánh cũng hộ.

  1. Sở tác tất thành, thần tiên khả kí (làm việc chi chắc thành việc đó, cũng có lẽ thành được thần tiên). –  Việc chi đây là chỉ việc lành mà thôi, chớ chẳng phải nói chung hết các việc. Phàm ai làm việc chi đều cũng trông mong được kết quả tốt, nhưng thường có xảy ra nhiều việc rắc rối. Đó chẳng phải là ta không hết lòng làm, mà thiệt tại trước ta tạo nghiệt rất nặng, nên mới có ma chướng cản ngăn. Nhưng nếu không vì sự rắc rối đó mà thối hối trong lòng, lại càng thêm sức tinh tấn thì tự nhiên các việc rắc rối sẽ chiều theo ý muốn. Tại sao? Là bởi cái số lành của người làm lành kia đã đầy đủ rồi, đã đặng người kính, Trời hộ, phước theo, tà lánh, thần phò, thì việc làm nào mà không thành tựu? Cho đến việc khó như việc tu luyện thành thần tiên mà cũng còn có thể trông mong được nữa.

Bài trước kể các sự cảm, còn bài này kể các sự ứng, mà đều thuộc về điều lành cả. Hễ cảm lành thì ứng lành, luật Trời định chắc như vậy không hề sai chạy.

   III. NHỮNG ĐIỀU DỮ NÊN CHỪA

Việc dữ kể ra trong Kinh Cảm Ứng gần hết hai phần cuốn. Đây xin lược kể mấy điều đại khái mà thôi:

  1. Phi nghĩa nhi động, bội lý nhi hành (tính điều phi nghĩa, làm việc trái lẽ).
  2. Âm tặc lương thiện, ám vũ quân thân (hại lén người lành, khi thầm vua chúa, cha mẹ).
  3. Ngược hạ thủ công, siểm thượng hi chỉ (hãm hại kẻ dưới để mình lập công, dua mị người trên mong trên đẹp ý).
  4. Thọ ân bất cảm, niệm oán bất hưu (thọ ơn mà chẳng cảm ơn, nhớ việc thù oán hoài hoài).
  5. Sát nhơn thủ tài, khuynh nhơn thủ vị (giết người lấy của, hại người cướp ngôi).
  6. Lăng cô bức quả, khí pháp thọ lộ (hiếp đáp đàn bà góa, con mồ côi, tham của hối lộ mà bỏ phép công).
  7. Tri quá bất cải, tri thiện bất vi (biết việc lỗi mà chẳng sửa, biết điều lành mà chẳng làm).
  8. Sán báng thánh hiền, xâm lăng đạo đức (chê bai thánh hiền, phá rối đạo đức).
  9. Xạ phi trục tẩu, phát trập kinh thê, điền huyệt phúc sào, thương thai phá noãn (bắn loài bay, săn loài chạy, khuấy phá loài ở dưới đất, náo động loài đậu trên cây, bít hang lật ổ, đập trứng hại thai).
  10. Nguy nhơn tự an, giảm nhơn tự ích (hại người ta đặng mình yên, bớt phần người thêm phần mình).
  11. Hình nhơn chi xủ, kiết nhơn chi tư (bày chỗ xấu của người, vạch việc riêng của người).
  12. Hao nhơn hóa tài, li nhơn cốt nhục (làm hao mất của cải người, phá rời rã  tình ruột thịt người).
  13. Xâm nhơn sở ái, trợ nhơn vi phi (đoạt người hay là vật của người ta thương mến, giúp kẻ khác làm điều hung dữ, sái phép).
  14. Sinh chí tác oai, nhục nhơn cầu thắng (đắc chí làm oai để phục người ta, làm nhục nhã người để toại lòng háo thắng của mình).
  15. Tán khí ngũ cốc, lao nhiễu chúng sanh (hủy hoại cơm gạo, khổ khắc người vật).
  16. Quyết thủy phóng hỏa, dĩ hại dân cư (phá cống, đốt nhà, để hại nhơn dân).
  17. Can cầu bất toại, tiện sanh chú hận (xin hỏi người ta chẳng cho, bèn sanh oán giận, rủa bới).
  18. Kiến tha tài năng khả xưng nhi ức chi (thấy người khác giỏi dắn đáng khen, mà lại kiếm cớ chê đè).
  19. Thưởng phạt bất bình, dật lạc quá tiết (thưởng phạt không công bình, vui chơi không tiết độ).
  20. Oán thiên vưu nhơn, ha phong mạ võ (giận trời trách người, chửi gió mắng mưa).
  21. Dụng thê thiếp ngữ, vi phụ mẫu huấn (nghe lời vợ thiếp mà trái lịnh mẹ cha).
  22. Đoản xích hiệp độ (đạc), khinh xứng tiểu thăng (thước non đo thiếu, cân nhẹ đong lui).
  23. Tham lam vô yểm, chú trớ cầu trực (lòng tham lam vô hạn, thề thốt cho người tin mình ngay thẳng).
  24. Tổn tử đọa thai, hành đa ẩn tịch (hại chết con nít, phá hư thai bào, làm việc lén lút, không quang minh chánh đại).

Những việc dữ nên chừa cũng chẳng phải ít, không thể kể ra cho hết. Nói tắt mà nghe, những việc nào tổn hại cho người, cho vật, phạm đến oai Trời và thần minh đều là việc dữ cả.

Có người nói: Tôi không làm dữ là đủ, không làm dữ tức là người lành rồi. Điều ấy chưa ắt.

Trang Tử nói rằng: “Nhứt nhựt bất niệm thiện, chư ác giai tự khởi”. Nghĩa là: Một ngày không tưởng đến việc lành, thì mọi việc dữ đều tự nó dấy lên.

Còn xét về mặt tiến hóa, nếu không làm dữ mà chẳng lo tu thiện thì trái với luật của Tạo hóa. Trái luật Tạo hóa chẳng phải là đắc tội với Trời sao? Hễ đắc tội với Trời thì là làm dữ rồi, không thể gọi là làm lành được.

   IV. LÀM DỮ SẼ MANG HỌA

Hễ làm dữ thì có họa đến cho mình. Đức Thái Thượng kể các việc dữ, rồi lại chỉ rõ những sự họa hại về sau như vầy:

  1. Tư Mạng tùy kỳ khinh trọng, đoạt kỳ kỷ toán (Tư Mạng Táo Quân tùy tội lỗi nặng nhẹ, mà bớt tuổi thọ, hoặc một kỷ, hoặc một toán). - Năm phước là: 1. Thọ, 2. Phú, 3. Khương ninh, 4. Du háo đức (chỗ ưa mến là đức), 5. Khảo chung mạng (chết tốt). Thọ đứng đầu trong năm phước, nên phạt dữ cũng lấy đó làm đầu.
  2. Toán tận tắc tử, tử hữu dư trách, nải ương cập tử tôn (hết toán rồi thì chết, chết còn dư tội, thì để tai ương lại cho cháu con). - Trong một gia quyến, cha con, anh em, chồng vợ đều có duyên phần với nhau nên mới hội hiệp cùng nhau một chỗ. Việc làm của người này sao cũng có ảnh hưởng đến người kia, việc làm của người kia sao cũng có ảnh hưởng đến người này. Tuy biết rằng “ai tu thì nấy đặng phước, ai làm dữ thì nấy mắc họa”, nhưng đó là luận về phần cảm ứng riêng của mỗi người. Còn có phần cảm ứng chung cho nhiều người, chẳng phải can phạm những người một nhà, một xóm mà thôi, lại gồm luôn cả xứ, cả nước, cả thế giái nữa. Hễ tình thân ái càng lớn chừng nào, thì chỗ can phạm càng nhiều chừng nấy. Bằng chẳng vậy, ai lo phận nấy, thì còn gì là thuyết gia đình, xã hội.
  3. Hựu chư hoạnh thủ nhơn tài giả, nải kể kỳ thê tử, gia khẩu dĩ đương chi, tiệm chí tử táng (lại những kẻ gian tham cướp giựt của người, thì vợ con, mấy miệng ăn trong nhà đều phải trả chung, lần lần chết yểu vong thân). - Trời phạt chung cả nhà là vì vợ con trong nhà đều có dùng của gian ấy, nhứt là có hưởng mà còn xúi giục thêm. Còn hưởng của gian mà giả đò làm lơ như chẳng rõ biết, cũng là có tội nặng vậy.
  4. Nhược bất tử táng, tắc hữu thủy hỏa, đạo tặc, di vong khí vật, tật bịnh, khẩu thiệt chư sự, dĩ đương vọng thủ chi trị (nếu chẳng chết yểu vong thân, thì sẽ có các việc như nước lửa, trộm cướp, bỏ mất tài vật, đau ốm, kiện thưa đến mình, để trừ cho đủ cái số tiền giựt kia).

- Tại sao mà chẳng chết yểu vong thân? Ấy là nhờ trong nhà có người hiền lương háo thiện, hoặc tổ tiên chứa phước đức nhiều, nên chỉ bị các việc kể trên này xảy ra làm cho hao hết số tiền phi nghĩa đó mà thôi. Ngạn ngữ nói rằng: “hoạnh tài bất phú” là vậy.

  1. Hựu uổng sát nhơn giả, thị dịch đao binh nhi tương sát dã (lại giết oan người ta, thì tỉ như đổi gươm dao mà giết nhau vần công). - Kẻ hung hăng, kẻ trộm cướp, v.v . . . giết người vô tội thì bị thân thích của người chết, hoặc bị tòa hình thay mặt cho xã hội buộc tội mà giết lại; hay là đầu thai vay trả cho nhau, oan oan tương báo. Ấy là lẽ Trời tuần huờn, không trông cầu may mà được thoát khỏi. Cho nên giết người, chớ tình thiệt là giết mình đó.
  2. Thủ phi nghĩa chi tài giả, thí như: lậu phủ cứu cơ, trẩm tửu chỉ khát. Phi bất tạm bảo, tử diệc cập chi (lấy đồng tiền phi nghĩa, cũng như đem thịt khô bị mưa dột mà cứu người khỏi đói, rựợu có tẩm lông chim trấm mà trợ người hết khát. Chẳng phải không no đủ một lúc, mà rồi cũng chết liền theo đó). - Nước mưa dột nhểu vào thịt khô thì thịt đó rất độc, hại được mạng người. Con chim trấm ăn rắn, nên bỏ lông nó vào rượu, thì rượu ấy giết người lẹ lắm.

Bài trước kể các sự cảm, còn bài này kể các sự ứng, mà đều thuộc về dữ cả. Hễ cảm dữ thì ứng dữ, chớ tưởng là may rủi mà lầm.

   V. TÂM KHỞI TƯỚNG LÀNH DỮ

Đức Thái Thượng dạy rằng: “Phù tâm khởi ư thiện, thiện tuy vị vi, nhi kiết thần dĩ tùy chi. Hoặc tâm khởi ư ác, ác tuy vị vi, nhi hung thần dĩ tùy chi”, nghĩa là: Trong lòng vừa khởi tưởng đến việc lành, việc lành đó tuy chưa làm ra, mà vì thần lành đã theo mình. Hoặc trong lòng vừa khởi tưởng đến việc dữ, việc dữ đó tuy chưa làm ra, mà vị thần dữ đã theo mình.

Cuốn Tỉnh Thế Ngộ Chơn nói rằng: “Thiện ác lưỡng đồ tranh nhứt niệm, thánh phàm nhị lộ thỉ phân hành”, nghĩa là: Lành với dữ tranh nhau mà phát ra bởi có một niệm tưởng mà thôi, rồi bắt từ đó mới có phân ra hai nẻo thánh với phàm.

Chủ ý nói cái tâm người là gốc sanh điều lành việc dữ, là cái máy tạo ra họa phước, thánh phàm đó. Đừng có hiểu lầm rằng: Việc gì có nói ra mới có quan hệ, chớ còn tư tưởng ở trong tâm thì không hại gì.

Thánh hiền xưa rất trọng tư tưởng vì biết rằng tâm là chủ tể thân hình, nên tư tưởng phát khởi trong tâm là nguồn mạch của mọi việc thân hình làm ra. Có tư tưởng rồi mới có nói ra, mới có làm ra. Người thường tư tưởng về một việc nào hoài, thì có ngày miệng nói ra hay là tay chơn làm ra mà mình không tự biết, bởi tư tưởng nuôi nấng lâu ngày, đủ sức mạnh rồi, nên mình không còn làm chủ nó được nữa, mà phải bị nó làm chủ lại. Người biết lợi dụng tư tưởng thì giữ nguồn mạch này cho trong sạch, tự nhiên dòng nước ở trong đó chảy ra chẳng bao giờ nhiễm bợn nhơ.

Lúc mới khởi tâm mà chưa phát niệm về một vấn đề gì, thì trước phải xét đến chỗ tận thiện tận mỹ, đừng cho xen lộn mảy hào tà vọng. Nếu nguồn mạch đã được sạch trong thì tâm khởi niệm điều chi, thảy đều trọn lành mà không có dữ. Nếu chẳng cẩn thận trước, để cho niệm tưởng loạn sanh rồi, như niệm lành thì khoách sung đã đành, còn niệm dữ thì rất khó tảo trừ. Phải lắm công phu mà không chắc thắng nổi tà vọng. Dầu có thắng nổi thì cũng không khỏi bị dấu vết nơi tâm thần. Tỉ như cây cỏ kia đã nảy mầm mọc chồi, dầu có phát có bừa đi, chung cuộc cũng còn dấu vết ở chỗ ấy, mà sợ nỗi phát bừa không tới cội rễ thì có ngày nó sẽ nảy mầm mọc chồi trở lại chẳng dứt.

Đức Thái Thượng chỉ điều lành nên chứa, việc dữ nên chừa, mà còn e người ta không biết tư tưởng quấy là có hại, nên mới nói rằng: Hễ tâm dấy tưởng thì đã có thần theo rồi. Cái thâm ý của Ngài là muốn cho người ta cẩn thận, chẳng những trong hành vi mà thôi, dầu trong tư tưởng cũng phải vậy nữa.

Nhiều nhà đạo đức bên phương Tây nói rằng: “Tâm ta tưởng sao thì ta sẽ trở nên vậy” thì cũng đồng ý kiến với thánh hiền bên phương Đông. Như vậy, người muốn tu thân, chẳng những phải chăn chừng tư tưởng của mình, mà còn phải mỗi ngày tập tưởng điều lành một đôi lần. Lâu rồi cái tâm quen về mặt này, chỉ có biết tưởng về đường lành mà thôi, thì không thế nào tư tưởng dữ kềm chế mình được.

Tư tưởng lành đã giúp ích cho mình được tiến hóa, mà cũng có thể làm cho những người trong hoàn cảnh mình xu hướng về đường phải nữa. Bởi cớ sao? Vì tư tưởng lành bủa giăng thanh khí khắp chung quanh mình, triêm nhuận người khác, làm cho hột giống lành của họ cũng được lần lần phát sanh.

Tư tưởng quan hệ như thế, thì ai còn dám xem thường nữa chăng?

   VI. KHUYÊN RÁNG ĂN NĂN LÀM PHẢI

Đức Thái Thượng dạy rằng: “Kỳ hữu tằng hành ác sự, hậu tự cải hối, chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, cửu cửu tất họach kiết khánh, sở vị chuyển họa vi phước dã”, nghĩa là: Có kẻ làm dữ trước khi, mà sau rồi ăn năn sửa lỗi, không làm các việc dữ, vưng dạy mọi điều lành, lâu lâu sẽ đặng phước khánh, ấy là đổi họa ra phước đó.

Ngài lại khuyên rằng: “Cố kiết nhơn ngữ thiện, thị thiện, hành thiện, nhứt nhựt hữu tam thiện, tam niên thiên tất giáng chi phước. Hung nhơn ngữ ác, thị ác, hành ác, nhứt nhựt hữu tam ác, tam niên thiên tất giáng chi họa. Hồ bất miễn nhi hành chi?”, nghĩa là: Cho nên người hiền đức nói lành, xem lành, làm lành, một ngày có đặng  ba điều lành ấy, đủ ba năm thì tất nhiên Trời xuống cho phước. Kẻ hung hăng nói dữ, xem dữ, làm dữ, một ngày có đặng ba việc dữ đó, đủ ba năm thì Trời xuống cho họa. Sao lại không gắng bó mà làm lành vậy?

Kinh Sám Hối nói rằng:

                                                 Chớ thái quá, đừng lòng bất cập.

                                                 Phép tu hành luyện tập nhiều ngày.

                                                        Làm lành, xem phải, nói ngay,

                                         Giữ ba điều ấy thiệt rày phước duyên.

cũng là giải một ý kiến trên kia.

Xem lành đây là xem bằng thần, xét bằng ý ở trong trí não, chớ chẳng phải dùng mắt thường mà xem ở ngoại cảnh. Ba điều kể trên cũng như ba nghiệp của nhà Phật, là: Thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp. Hễ một ngày hết lòng sốt sắng mà giữ ba nghiệp này cho đặng thanh tịnh luôn luôn, thì chừng ba năm sẽ thấy phước báo đến cho mình chẳng sai. Nhưng hỡi ôi! Có mấy ai sốt sắng mà giữ được một mực thường hoài, cho nên sự báo ứng cũng tùy theo đó mà có mau có chậm. Vậy ai muốn mau thì phải gắn bó mà làm lành cho đủ số.

Theo khoa học, phàm hai vật gặp nhau mà thành ra một hiện tượng chi chi thì phải ở trong một cái hạn độ nhứt định. Quá cái hạn độ này thì lại sanh ra một cách biến hóa khác. Cái hạn độ này gọi là bão hòa điểm (point de saturation). Ví như trong không khí có hơi nước tất có định lượng, quá định lượng ấy thì hơi nước thành ra giọt nước; trong nước có muối tan, mà quá định lượng ấy thì muối hết tan nữa được.

Đạo học cũng tựa như vậy. Nếu số lành hay là số dữ chưa quá hạn độ của nó, tức là cái bão hòa điểm chỉ trên, thì cũng không thế nào thành ra phước báo hay là họa báo được. Ta chớ vội trách sao có người làm một ít điều lành mà được hưởng phước, là vì người ấy trước đã làm lành nhiều rồi, nên phước báo mới ứng hiện. Ta chớ vội phiền sao có kẻ làm nhiều việc dữ mà chưa mắc họa, là vì kẻ kia trước không có gây dữ bao nhiêu, nên họa báo chưa lộ hình. Lại có người tuy làm dữ mà cũng có làm lành, hoặc là làm lành mà cũng có làm dữ, vì lành dữ mắc trừ cấn cho nhau, nên sự báo ứng cũng có chậm trễ.

Trong mấy đoạn kinh đã dẫn trên kia, Đức Thái Thượng tổng kết bộ Kinh Cảm Ứng mà dạy phải bỏ dữ về lành, lại cũng chỉ rõ cái lý làm lành hoặc làm dữ đủ số thì tất nhiên có Trời xuống phước hay là xuống họa.Tuy rằng họa phước tại người vời, mà phải biết có Trời cầm đòn cân thiêng liêng ở trong đó.

Muốn đổi họa ra phước thì ta chớ tìm cầu đâu xa, cứ lo làm lành, tuyệt bỏ điều dữ. Ta muốn cho khách quí hằng tới nhà ta, thì phải dọn dẹp trong ngoài cho sạch sẽ, cho nghiêm trang: Khách quí là phước đó. Nếu ta để nhà ta u trệ, ô trược, làm sao kẻ tiểu nhơn chẳng khinh dễ mà lộng vào: Kẻ tiểu nhơn là họa đó. Nếu ta chấp mê chẳng tỉnh ngộ, việc dữ làm hoài, cam tâm thọ họa, thì dầu đức Thái Thượng cũng không phương chi cứu chữa.

 

CHƯƠNG THỨ BA

LUẬN VỀ CẢM ỨNG THEO THÍCH GIÁO VÀ NHO GIÁO

   I. CẢM ỨNG THEO THÍCH GIÁO

Nhà Phật cũng có luận cảm ứng mà cho tên khác gọi là nhân quả. Điều này cũng không lấy gì làm lạ, vì người chung một nước cũng thường có dùng tiếng bất đồng mà chỉ một vật, một lý, huống hồ hai tông giáo riêng nhau, gốc sanh ở khác nước. Tuy biết rằng cũng người Tàu dịch Kinh Phật bằng tiếng Phạn ra tiếng Trung Hoa rồi truyền sang Nam Việt, nhưng có lẽ dịch giả muốn dùng danh từ khác nhau cho dễ phân biệt.

Chữ nhân nghĩa là năng sanh (hay sanh sản như hột). Chữ quả nghĩa là sở sanh (bị sanh sản như trái). Vì có hột mới sanh trái, nên nhà Phật gọi nhân là sở tác (việc người làm ra), còn quả là sở thọ (phần người chịu lấy).

Nhà Phật cũng nói: Làm lành thì có nhân quả điều lành, làm dữ thì có nhân quả điều dữ. Làm lành thì hưởng phước, làm dữ thì mắc họa, hễ nhân nào thì quả nấy, có sai chạy bao giờ.

Kinh Niết Bàn nói rằng: Ớ các thiện sĩ! Phải biết nhân lành sanh ra quả lành, nhân dữ sanh ra quả dữ, mà xa lánh cái nhân dữ đi! Lại nói rằng: Sự lành dữ báo ứng tỉ như bóng theo hình, ba đời nhân quả xây vần chẳng sai: đời này bỏ luống ngày giờ (không lo làm lành), sau rồi ăn năn không kịp.

Kinh Nhân Quả nói rằng: “Dục tri tiền thế nhân, kim sanh thọ giả thị; dục tri hậu thế quả, kim sanh tác giả thị”, nghĩa là: Muốn biết nhân đời trước, đời nay chịu lấy đó; muốn biết quả đời sau, đời nay làm ra đó.

Đời nay mới sanh ra mà làm con nhà giàu sang hưởng phước, hoặc làm con nhà nghèo hèn chịu khổ, đều là do tiền căn mà báo hậu kiếp. Những kẻ nhờ công đức kiếp trước mà nay được hưởng phước, tuy nay mới làm dữ mà chưa mắc họa, là bởi trừ chưa hết công kiếp trước, hoặc do tội lỗi kiếp trước mà nay chịu khổ, tuy nay mới làm lành mà chưa hưởng phước, là bởi trừ chưa hết tội kiếp trước. Phải chờ trừ cấn lành dữ kiếp trước xong rồi, thì mới trả quả cho đời nay. Nếu có điều lành dữ đời nay mà chưa kịp trả quả, thì kiếp sau cũng phải trả. Đó gọi là tam thế nhân quả.

Nhà Phật luận nhân quả mà không nói đến thần minh. Chẳng phải là không nhìn có thần minh, nhưng không muốn cho chúng sanh ỷ lại vào thần minh, mà tưởng lầm rằng: Các vì thần minh có quyền tự do sửa luật họa phước, làm nắng làm mưa, theo ý muốn riêng của chúng sanh nào bày lễ cúng tế vái nài. Đến đỗi Đức A-Di-Đà là một vị Phật lớn, có lập bốn mươi tám lời đại nguyện độ hết chúng sanh, mà nếu chúng sanh, tuy niệm danh hiệu của Ngài, bái sám hằng ngày, mà không làm y theo luật của Ngài, tâm vẫn loạn động như người thế thường, thì Ngài còn không thể độ rỗi thay, hà huống là vị thần minh nào khác.

Kinh Pháp Bửu Đàn có nói rằng: “Tự tánh tự độ danh vi chơn độ”. Nghĩa là: Lấy tánh mình độ mình, mới gọi là thiệt độ. Lấy tánh mình là lấy cái trí bác nhã trong tánh mình, dùng chánh kiến mà nuôi nấng nó, để đánh phá ngu si mê vọng, rồi lại thì chánh độ, lại thì ngộ độ, ngu lại thì trí độ, ác lại thì thiện độ. Độ mình bằng cách ấy mới là phép độ chơn thiệt chánh đáng. Nói cho rõ ra: Tự độ nhi hậu Phật độ.

Nhà Phật cũng có cuốn: “Phật giáo Cảm ứng thiên” của Vô Tích Đinh Huệ Khương biên chú, rút những lời Phật dạy trong các kinh về lẽ báo ứng, chỉ cầu cho người người biết việc dữ mà tránh, biết điều lành mà theo.

   II. CẢM ỨNG THEO NHO GIÁO

Nho giáo cũng có nói về cảm ứng, nhưng không có lập thuyết đặt tên riêng. Vả lại Nho giáo và Đạo giáo cũng đồng trổ sanh ở Trung Hoa; tuy cận đại có chia ra phái xuất thế và phái nhập thế, nhưng xét về nguồn cội thì hai phái cũng căn cứ ở một thứ kinh sách của Thánh Hiền xưa để lại, nhứt là Kinh Dịch. Về lẽ báo ứng, thì người trong phái Nho giáo hay dẫn những lời sau này:

Kinh Dịch nói rằng: “Tích thiện chi gia tất hữu dư khương, tích bất thiện chi gia tất hữu dư ương”, nghĩa là: Nhà chứa điều lành ắt có nhiều phước, nhà chứa điều chẳng lành ắt có nhiều họa.

Sách Thượng thơ nói rằng: “Tác thiện giáng chi bá tường, tác bất thiện giáng chi bá ương”. Nghĩa là: Làm điều lành thì (Trời) xuống cho trăm việc tốt, làm điều chẳng lành thì (Trời) xuống cho trăm việc hại.

Từ Thần Ông nói rằng: “Tích thiện phùng thiện, tích ác phùng ác, tử tế tư lươn, Thiên Địa bất thác; thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo, nhược huờn bất báo, thời thần vị đáo”, nghĩa là: Chứa lành gặp lành, chứa dữ gặp dữ, tử tế suy lường, thì rõ Trời Đất chẳng lầm; lành có lành trả, dữ có dữ trả, nếu bằng chẳng trả, ấy là chưa đến ngày giờ.

Đức Khổng Tử nói rằng: “Vi thiện giả Thiên báo chi dĩ phước, vi bất thiện giả Thiên báo chi dĩ họa”, nghĩa là: Kẻ làm điều lành thì Trời lấy phước mà trả cho nó, kẻ làm điều chẳng lành thì Trời lấy họa mà trả cho nó. Nhưng Ngài có nói một lời đáng nhớ hơn hết, là khi Ngài đau, Tử Lộ xin phép khẩn đảo. Ngài hỏi: Xưa có làm vậy chăng? Tử Lộ trả lời rằng: Có vậy. Trong văn tế có nói: “Đảo nhĩ vu thượng hạ thần, kỳ”, nghĩa là: Chúng tôi khẩn đảo các Ngài là chư Thần trên trời và dưới đất. - Ngài mới nói rằng: “Khưu chi đảo cửu hĩ”, nghĩa là: Khưu này (tên của Ngài) đã khẩn đảo lâu rồi. Ý Ngài muốn nói: Khẩn đảo bất quá là cải lỗi dời lành để cầu thần bảo hựu. Ta bình nhựt thấy lỗi thì cải ngay, thấy lành thì dời ngay. Đó là ta khẩn đảo với thần minh thường thường, nào phải chờ đến ngày nay đâu?

Ngài cũng có nói rằng: “Quân tử thản đãng đãng, tiểu nhơn trường thích thích. Quân tử thượng đạt, tiểu nhơn hạ đạt”, nghĩa là: Người quân tử khoan thai vô cùng, kẻ tiểu nhơn buồn rầu chẳng ngớt. Người quân tử càng ngày càng đi lên trên (trên là chỉ đức nghĩa, thiên lý), kẻ tiểu nhơn càng ngày càng đi xuống dưới (dưới là chỉ tài lợi, nhơn dục). Những lời này rõ lại chẳng phải ra ngoài vấn đề cảm ứng.

Thầy Mạnh Tử nói rằng: “Họa phước vô bất tự kỷ cầu chi giả. Thi vân:Vĩnh ngôn phối mạng, tự cầu đa phước”. Thái Giáp viết: “Thiên tác nghiệt du khả vi, tự tác nghiệt bất khả hoạt. Thử chi vị dã”, nghĩa là: Không có điều họa phước nào mà chẳng do mình mời đến. Kinh Thi nói: Cứ nhớ vưng theo mạng Trời luôn luôn là tự mình cầu nhiều phước. Thiên Thái Giáp (trong Kinh Thơ) nói: Trời xuống họa còn có thể tránh, tự mình gây họa thì không thể sống nổi. Chánh là nói nghĩa đó. Thầy Mạnh Tử dẫn lời Kinh Thi và Kinh Thơ này để chứng bằng câu Ngài nói trước là câu: Họa phước vô bất tự kỷ cầu chi giả..

Cốt yếu mấy lời trên kia là nói: Làm lành gặp phước, làm dữ mắc họa, họa phước đều tự mình gây ra. Cho nên người quân tử tránh điều phi lễ, phi nghĩa, là chủ ý tuyệt cảm ứng về điều dữ vậy. Nhưng Nho giáo chuyên lo về mục đích cang thường luân lý, hay nói thiệt sự, cho nên phần nhiều lời dạy trong kinh sách phái này thuộc về vấn đề cảm ứng, đối với nhơn vật. 

 

CHƯƠNG THỨ TƯ

KẾT LUẬN HIỆP LÝ TAM GIÁO

I. VỀ MẶT CẢM ỨNG, TAM GIÁO KHÁC NHAU Ở CHỖ LẬP LUẬN, NHƯNG VẪN BỔ NGHĨA CHO NHAU

Ba tông giáo là Nho, Thích, Đạo đều có luận về cảm ứng. Tuy giáo nào cũng dạy đủ lý, nhưng đại khái chỗ lập luận có khác nhau (đại đồng tiểu dị). Đạo giáo căn cứ ở thần minh, Nho giáo ở luân lý, Thích giáo ở tự tánh.

Tam giáo cần phải hiệp nhau là lẽ này:

Nếu chỉ biết cảm ứng về một mặt thần minh thưởng phạt (Đạo giáo) thì e sanh thói ỷ lại, mất tánh tự cường, chẳng cầu tự lực mà chỉ cầu tha lực, cúng tế cầu phước, thành ra mê tín, thì có phải tự tánh càng ngày càng thêm tối tăm chăng?

Nếu chỉ biết cảm ứng về một mặt luân lý (Nho giáo) thì e thiên về phần đời, chỉ cầu sung sướng vật chất theo kiếp này, mà chẳng cần lo phần thiêng liêng về ngày sau, thì cái đời con người có gì là lý thú, là cao thượng?

Nếu chỉ biết cảm ứng về một mặt tự tánh, thì lại e không trọng kính thần minh, có ý dung dị cho mình thái quá, tự nhận rằng muôn việc chỉ cũng do nơi mình, thì có cần phải sợ ai, sanh ra tánh khinh khi mà dễ sa nơi đường tội lỗi; hoặc chỉ lo ích lợi riêng cho phần thiêng liêng của mình mà thôi, thì còn gì là nhơn quần xã hội, luân lý cang thường.

Mỗi giáo tùy cơ mà khuyến dạy, liệu bịnh mà cho thuốc, nói rõ khoản này mà không nói rõ khoản khác, nên cần phải hiệp cả ba, để châm chước, thêm bớt cho nhau mà tạo thành một thuyết hoàn toàn.

Theo tâm lý học: Trí, Tình, Ý là ba phương diện của cái tâm người. Loài thượng đẳng thú cũng có ba đức tánh ấy. Nhưng nếu ta quan sát xuống tới loài thấp, loài nhỏ hơn nữa, thì trí và tình lần lần sát nhập, ban đầu còn phân biệt với ý, sau hiệp lại làm một, thì chỉ còn có một cái khuynh hướng không mà thôi.

Nếu con người càng tiến hóa chừng nào thì ba phương diện của cái tâm càng phát biểu ra rõ rệt chừng nấy, nhưng cũng còn giữ một gốc, chớ chẳng phải lìa nhau. Tỉ như:

  1. Lúc ta tưởng về khoa học, vì ta mến khoa học và ta muốn truyền bá nó ra, ta mới đứng ra diễn thuyết thì ta làm vai người giáo sư, hoặc nhà bác học. Ở trong tâm ta, sự tưởng (trí) mạnh hơn, mà cũng trong một thời gian, ta có mến (tình) và muốn (ý) nữa.
  2. Khi ta có lòng mến một người nào hay là vật gì, mỗi hành động của ta đều qui về một sự yêu mến ấy, thì ta làm vai người tình tự, hoặc nhà mỹ thuật. Trong vai này sự mến (tình) mạnh hơn, mà cũng trong một thời gian, ta có tưởng (trí) và muốn (ý) nữa.
  3. Khi ta muốn đem ý chí của ta ra thi hành, ta muốn khiến người làm theo ta và ta muốn hành động sao cho đạt tới mục đích đó, thì ta lại làm một vai khác chẳng đồng với hai vai trước. Theo vai này thì ý chí mạnh hơn, mà cũng trong một thời gian ta muốn (ý) đó, ta cũng mến (tình) và ta cũng tưởng (trí). Vậy thì trong mỗi vai ta đều có gồm đủ cả ba đức tánh: trí, tình, ý. Nhưng ba đức tánh này có khác nhau trong mỗi vai là do nơi phần trổi hơn, tức là chỗ đặc biệt của mỗi vai đó.

Ba tông giáo đứng về ba phương diện mà luận cảm ứng. Ba phương diện này là trí, tình, ý, của cái tâm người mới giải trên. Thử xét: Nho có phải lo phần trí nhiều hơn chăng? Đạo có phải lo phần tình nhiều hơn chăng? Thích có phải lo phần ý nhiều hơn chăng?

Ba giáo khác nhau là tại chỗ phần trỗi hơn, tức là chỗ căn cứ lập luận nói có rành rẽ hơn đó, chớ có giáo nào mà dạy phóng túng tâm tánh, giáo nào mà truyền không có thần minh, giáo nào mà nói không cần luân lý đâu?

   II. TUY RẰNG TAM GIÁO LUẬN THIÊN MẠNG VÀ ĐỊNH MẠNG  BẤT ĐỒNG, NHƯNG ĐỀU DẪN LÊN MỘT CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT

Có người lại bài bác rằng: Nho, Đạo xướng cái thuyết thiên mạng (fatalisme), còn Thích giáo xướng cái thuyết định mạng (déterminisme), nghịch hẳn với nhau, làm sao mà dung hòa cho được?

Thiên mạng là gì? Thiên mạng là thuyết dạy rằng mỗi việc của người gặp gỡ hoặc phải làm ra trong một kiếp sống đều do nơi Trời định trước, không thế nào trốn lánh hay là sửa đổi một tí gì được. Tục thường gọi là vận mạng.

Còn định mạng là gì? Định mạng là thuyết nói rằng mạng người không có ai chủ trương trong đó, tự việc của người làm mà dự định. Do việc làm trước khi di truyền lại bây giờ, do việc làm bây giờ di truyền lại ngày sau. Nhân quả thông suốt cả ba đời, chẳng hề sai chạy, không có điều họa phước nào chẳng phải tự mình tìm cầu lấy nó. Cũng gọi là thuyết túc mạng hay là định nghiệp.

Hai thuyết này mới nghe qua thì ai cũng cho là bất đồng. Vậy cũng nên xét coi hai thuyết ấy có thể dung hòa với nhau được không?

Về thuyết thiên mạng, ta nên biết rằng: Thiên mạng có nhiều thuyết thiên mạng. Thuyết thiên mạng của Nho, Đạo chẳng phải như nhiều người hiểu lầm là thuyết tự nhiên thiên mạng (fatalisme absolu), nghĩa là Trời định tự nhiên, chẳng kể đến việc làm, hoàn cảnh, vân vân. . . nào cả.

Không, không. Thiên mạng của Nho, Đạo (có thể gọi là fatalisme stoïcien) là thuyết Trời phán xét việc làm của người mà định phần tội phước. Hễ ai hành động thuận lý thì hưởng phước, còn trái lý thì chịu họa. Nếu người trước phạm tội nay biết hồi đầu sửa lỗi, hiệp với cơ tiến hóa, thì phần Trời định trước kia sẽ có biến đổi. Cho nên nói: “Thiên định mạng, nhơn tạo mạng, nhơn định thắng thiên”, nghĩa là: Trời nhứt định mạng vận cho người, người tự mình tạo ra mạng vận của mình, người nhứt định hơn Trời, là vậy đó. Bằng nói Trời muốn định thế nào thì định, không do nơi người, thì con người có cần làm lành, lánh dữ làm chi?

Thế thì thuyết thiên mạng hay là thuyết định mạng ấy đều phải do việc làm của người mà nhứt định tội phước, thử nghĩ hai thuyết có khác nhau không?

  • Có kẻ nói: Một thuyết nói Trời định tội phước, còn thuyết kia nói không có ai chủ trương về việc đó, chỉ do luật tam thế nhân quả mà thôi. Như vậy sao gọi là không khác nhau?
  • Xin trả lời: Nếu không xét kỹ thì tưởng hai thuyết trái nhau, chớ kỳ thiệt không phải trái.

Trời là chi? Luật là chi? Trời chẳng phải là một ông vua bạo ngược, muốn làm chi thì làm. Ai tưởng như thế là lầm. Trời là Đấng làm ra luật (Législateur), là Quan tòa xử theo luật(Juge). Lẽ thường, quan tòa nào xử đúng luật thì ta mới cho là công bình chánh trực. Trời là Đấng tột công bình chánh trực, thì đâu có rời luật ra bao giờ. Cho nên nói : Trời là Luật, Luật là Trời, là phải rồi. Huống chi theo lời trước đã giải, Trời của Nho, Đạo chỉ là Lý bổn nhiên, nào phải là một Đấng có hình dáng, có tình cảm hay là tư dục như người ta đâu!

Trên kia giải cách thi hành luật, đây lại chỉ Đấng thi hành, không có gì trái nhau cả, thì thuyết thiên mạng của Nho, Đạo và thuyết định mạng của Phật giáo vẫn theo có một lý mà thôi.

Nếu ta tiến lên một bực nữa mà xét, thì ta sẽ thấy còn có chỗ hạp với nhau nữa. Tuy biết có Trời hay là Luật định, nhưng sự quyết định đó không phải tất nhiên tuyệt đích (nécessité absolue). Ta có thể biến cải hay là thủ tiêu một việc báo ứng trước khi nó phát hiện. Vậy thì thuyết thiên mạng của Nho, Đạo và thuyết định mạng của Phật giáo đồng cho có một phần tự nhiệm (libre arbitre), nghĩa là chí nguyện (ý chí) được ít nhiều tự do.

Kẻ nào không có chí nguyện thì phải làm những việc sắp đặt trước rồi, vì những việc mình làm trước hòa hiệp với nhau thành ra một cái sức cảm tổng hiệp, day trở con người theo lối nhứt định. Đây là chỉ hạng người không có cái ý sáng kiến chi hết.

Còn người có chí nguyện biến cải được ít nhiều phần tiền định của mình, tùy theo nguyện lực của mình mạnh yếu, và cách dùng nguyện lực đó được đúng cùng không. Vì mỗi giờ phút, chí nguyện của con người có thể châm thêm sức cảm mới trong mạng vận của mình, làm cho biến cải phương hướng của sức cảm tổng hiệp nói trên kia. Hãy coi thuyết động cơ thì rõ cái lý này.

Vậy thì đủ thấy con người xu hướng về lành hay là về dữ là tự nơi chí nguyện của mình. Muốn cho chí nguyện xu hướng về lành thì cần phải lấy trí huệ làm ngọn đuốc dẫn đường. Nếu chí nguyện và trí huệ được trọn mở mang thì con người mới được trọn siêu thoát. Đây là chỉ cái mục đích tối thượng của con người.

Tóm lại, có cái tự do tuyệt đích cho người thấu đáo chơn lý mà thôi (ròng tự nhiệm)[3], có cái tự do tương đối cho người đã mở mang ít nhiều cái chí nguyện của mình (nửa thiên mạng hay là định mạng, nửa tự nhiệm) ; rốt lại có cái số hệ độc đoán buộc trói những kẻ nào không có chí nguyện gì hết (ròng thiên mạng hay là định mạng).

Có người chỉ học thuyết thiên mạng hay là thuyết định mạng, mà không xét đến phần tự nhiệm, nên thấy kẻ khác chịu thống khổ thì nói rằng : ” Người này bị phạt bởi trước kia có gây tội lỗi, nếu ai cứu hộ nó thì sẽ mắc tội liên can” . Ôi! Nếu ai cũng nói như thế đó thì còn gì là đạo từ bi bác ái của Trời Phật. Sao chẳng xét vì họ không biết mới chịu thống khổ, chớ Trời Phật nào muốn cho ta chẳng ra chút công cán hay là đem sự hiểu biết của ta mà dẫn họ lại con đường hạnh phước. Có lúc nào ta không nên giúp đồng ban ta sửa đổi phương châm ăn ở đời đâu? Nếu ta không trợ giúp về phần xác được (vì có khi cũng không nên giúp như vậy), thì phải trợ cho phần hồn họ được thức tỉnh hồi đầu mà tìm phương thoát khổ. Vậy sao gọi là mắc tội được ?

Đời này là đời hay gây chuyện bất bình ra hoài, đến đỗi tương sát tương tàn, chỉ bởi một tánh vị ngã mà ra. Ai là người ưu thế mẫn thời phải tìm lý chơn chánh mà hòa hiệp nhơn tâm, làm sao cho người người tương thân tương ái, thì mới mong hưởng phước thanh nhàn, khổ hải biến ra liên trì được. Nếu cứ chấp nê phân rẽ nhau mãi, chia môn này, lập phái nọ, cốt để kích bác nhau, xung đột nhau, mà tưởng sẽ đến lúc đại đồng [4], ấy là cảm một đường mà muốn ứng một ngả, thì xưa nay chưa từng có vậy bao giờ !

CHUNG

 

 

[1] Như dùi với trống, nghĩa là: Hễ có dùi đánh thì trống kêu, có cảm thì liền thấy ứng.

[2] Thiên tước nghĩa là cái quí tự nhiên. Mạnh Tử nói rằng: Hiếu đễ trung tín, vui theo điều lành chẳng mỏi, gọi là thiên tước ( tước phẩm của Trời, thiên nhiên chẳng phải người ban). Còn công khanh, đại phu, đó là nhơn tước.

[3] Thuyết thiên mạng dạy có Trời định tội phước, nhưng do việc của người làm. Việc làm của người được chí thiện, nghĩa là theo chánh lý, chẳng bị vật dục hay là hoàn cảnh sử khiến, thì hoàn toàn hiệp với Trời. Người với Trời có một, thì không còn phân biệt nữa. Chừng đó, ai định tội phước, ai lãnh tội phước?

Sách Trung Dung nói: “Thiên mạng chi vị tánh, suất tánh chi vị đạo”, nghĩa là: Mạng lịnh của Trời gọi là tánh, noi theo tánh gọi là đạo. Hay là nói ngược lại và rõ ra: Đạo giải thoát là noi theo bổn tánh của mình mà ăn ở, mà bổn tánh của mình tức là mạng lịnh của Trời. Vậy có phải là mình do nơi mình mà chẳng trái Trời chăng? Có phải là ròng tự nhiệm đó không?

     Theo Phật giáo, ròng tự nhiệm tức là cảnh Niết bàn.

[4] Sách Lễ Ký nói rằng: “Đại đạo chi hành dã, thiên hạ vi công, tuyển hiền dữ năng, giảng tín tu mục. Cố nhơn bất độc thân kỳ thân, bất độc tử kỳ tử, sử lão hữu sở chung, tráng hữu sở dụng, ấu hữu sở trưởng, căn quả cô độc, phế tật giả giai hữu sở dưỡng, nam hữu phận, nữ hữu qui. Hóa ố kỳ khí ư địa dã, bất tất tàng ư kỷ; lực ố kỳ bất xuất ư thân dã, bất tất vị kỷ. Thị cố mưu bế nhi bất hưng, đạo thiết loạn tặc nhi bất tác, cố ngoại hộ bất bế. Thị vị đại đồng”. Nghĩa là: Trong nước tuân hành đại đạo, thì vua coi thiên hạ như của chung, lựa người hiền tài mà truyền ngôi (chẳng phải truyền cho con cháu dòng vua); lời nói đáng tin, việc làm hòa hảo. Cho nên người ta (thần dân) chẳng những yêu cha mẹ mình, con em mình mà thôi, lại còn giúp cho kẻ già yên phận đến chết, dân tráng có đủ mọi món cần dùng, con nít được bảo dưỡng tử tế; thương người góa bụa đơn cô, nuôi kẻ tật nguyền yếu đuối, lo cho trai nên danh phận, gái có thất gia. Rất ghét bỏ rơi rớt của cải (như lúa gạo), mà chẳng phải bo bo cất riêng cho mình (hay bố thí); rất ghét chẳng tự mình ra sức (ở không) nhưng mà chẳng phải chỉ biết làm riêng cho mình (hay giúp đỡ). Cho nên mưu xảo tuyệt chẳng sanh, trộm cướp giặc giã chẳng dấy, thì cần gì phải đóng cửa ngõ nữa. Đó gọi là đại đồng.

Top