CẢM ỨNG LUẬN
==============================
TỰA
Theo Đạo giáo, mỗi khi bàn về vấn đề cảm ứng, người ta thường căn cứ vào cuốn Kinh “Cảm Ứng” của Đức Thái Thượng Lão Quân (Lão Tử). Kinh này đã có nhiều nhà từ thiện ấn tống khắp cùng xứ ta, tưởng ai ai cũng có xem qua rồi cả.
Ngoài cuốn Kinh Cảm Ứng, có cuốn “Đạo Đức Kinh” của Đức Thái Thượng, cuốn “Nam Hoa Kinh” của Trang Tử, cuốn “Xung Hư Kinh” của Liệt Tử, cuốn “Phá Mê Tông Chỉ” của Nho Đồng lão nhơn, v.v . . . của phái Đạo. Tuy các sách này không phải luận ròng về cảm ứng, nhưng cũng đều có nói sảo qua vấn đề ấy.
Cảm ứng lại là một vấn đề quán thông tam giáo, cho nên cũng có kinh sách phái Thích, phái Nho luận đến; ngoài ra còn có những sách khác của người phương Tây, như là phái Thông Thiên Học (Théosophie), v.v . . .
Nhờ đọc sách, tôi thấy được chút ít yếng sáng về vấn đề cảm ứng, nên xin đem phần sở đắc của tôi, rút lại làm quyển sách nhỏ này để cống hiến cho đồng bào tường lãm. Nếu may nó giúp ích cho nền Đạo được vài phần, tôi cũng được thỏa nguyện.
Trước hết, tôi nói về cái nghĩa cảm ứng theo Đạo giáo. Vì tiếng cảm ứng do Đạo giáo mà ra, nên phần nhiều tôi rút lời chánh văn trong Kinh Cảm Ứng của Đức Thái Thượng để chứng giải cái nghĩa cảm ứng. Kế đó, tôi dẫn sơ những điều lành, những điều dữ có kể trong Kinh Cảm Ứng và chỉ rõ lý cảm ứng trong hai đường lành dữ: Hễ cảm lành thì ứng lành, cảm dữ thì ứng dữ. Rồi sau tôi mới bàn qua cái lý cảm ứng theo Thích giáo và Nho giáo. Tuy chỗ căn cứ lập luận của ba giáo về mặt cảm ứng có khác nhau, nhưng chung qui cũng đều dẫn người lên con đường giải thoát mà thôi.
Sách này có bốn chương, kể ra sau này:
Chư quí vị độc giả xem qua cuốn sách này, hiểu rõ lý cảm ứng rồi, thì mỗi người nên để ý đến hành vi của mình, ráng trau tâm tánh, bỏ dữ về lành, bồi nhơn chứa đức. Làm được vậy lâu ngày thì có lo gì là không tránh khỏi họa tai, hưởng vô cùng phước lộc.
Tại Saigon, năm Giáp Tuất, tháng giêng, ngày rằm (28 Février 1934)
NGUYỄN MINH THIỆN
CHƯƠNG THỨ NHỨT
NGHIÊN CỨU VỀ Ý NGHĨA CẢM ỨNG CỦA ĐẠO GIÁO
I. ĐỊNH NGHĨA HAI CHỮ CẢM ỨNG.
Phàm dùng chữ nào, trước phải định nghĩa chữ ấy cho phân minh thì sau mới tránh khỏi sự lẫn lộn lầm sai. Lại cũng nên chủ ý đến nghĩa riêng của mỗi chữ theo học thuyết, vì mỗi học thuyết lấy nghĩa khác nhau chẳng đồng.
Chữ cảm nghĩa một là xúc, là động. Lấy cái này mà xúc động (chạm đến) cái kia gọi là cảm. Người Langsa dịch là action (hành động). Chữ ứng nghĩa một là đối, là đáp. Rồi cái kia đối đáp (dội lại) cái này gọi là ứng. Người Langsa dịch là réaction (phản động). Cảm đã là hành động (việc người làm), ứng là phản động (sức dội lại) thì ứng phải do cảm, nghĩa là bởi một việc làm trước, rồi mới có cái sức dội lại sau.
Tỉ như có người đá một trái cầu vào vách tường thì đá trái cầu gọi là hành động (cảm); đến lúc trái cầu đụng vách tường dội trở ra thì cái sức dội này gọi là phản động (ứng). Nếu không có người đá trái cầu trước kia thì cũng không có cái sức dội lại sau này. Nghĩa này là nghĩa vật lý học, tức là khoa học hữu hình.
Sách tâm lý học, tức là khoa học vô hình, nói rằng: “Tùng chỗ cảm giác (sensation) mà sanh ra động tình (émotion-sentiment). Cũng như thấy người dữ (cảm giác) bèn sanh lòng sợ sệt (động tình), nghe việc lành (cảm giác) mà đem dạ mến yêu (động tình) v.v . .”. Vì thấy dữ, nghe lành mới có sợ, có mến, rồi mới có khuynh hướng vầy hay là khuynh hướng khác. Bởi có cái cảm giác trước là thấy dữ, nghe lành mới có cái ứng đối sau là sợ, là mến nên cũng gọi là cảm ứng. Nhưng cảm đây là thọ cảm (bị cảm), chớ không phải thi cảm (làm cho cảm). Thi cảm là người dữ, việc lành nói kia, ở ngoài thân thể ta, phải truy ra cái nguồn cảm ở đâu thì nghĩa chữ cảm mới được rõ ràng.
Theo nghĩa thông thường của tông giáo, phàm người lấy tinh thành mà cảm động Trời và thần minh thì tự nhiên có Trời và thần minh hiển ứng hộ trì. Người ta hiểu lầm hai chữ tinh thành là hết lòng, ráng sức, hai chữ cảm động là lạy lục, khẩn cầu, cho nên mới có câu: “hữu cầu tắc ứng”. Bởi cớ mà cảm ứng thành ra có cái nghĩa: khi có tai họa, nghèo nàn thì hết lòng khẩn vái cho chuyển họa ra phước, đổi nghèo ra giàu, chớ không chịu xét rằng cảnh ngộ ngày nay gốc bởi lý do đâu trước mà ra, rồi ráng sức sửa đổi lại.
Cuốn Kinh Cảm Ứng của Đức Thái Thượng Lão Quân khởi đầu như vầy: “Họa phước vô môn, duy nhơn tự triệu; thiện ác chi báo, như ảnh tùy hình”, nghĩa là: Điều họa phước không có ngõ nhứt định, chỉ tại người tự vời lấy cho mình, dữ lành hai lẽ báo ứng, tỉ như cái bóng tùy hình. Chữ tùy có nghĩa là theo một bên chẳng rời, mà cũng có nghĩa là chịu sự lớn nhỏ, dài vắn nữa. Câu đầu là cang lãnh (giềng bâu) của trọn bộ Cảm Ứng, mà có hàm ý nghĩa gì về cúng tế cầu phước đâu!
Thiệt tin tưởng Trời và thần minh chẳng phải là quấy, vì là tin tưởng có hạng đứng chủ trương và thi hành cái luật công bình trong vũ trụ, tức là tin tưởng có cái luật công bình này. Nhưng ai có tánh biếng nhác ỷ lại, chẳng chịu ra công mà muốn hưởng, thành ra muốn cho thần minh làm trái luật ấy để bảo hộ mình, thiệt là quấy đó. Người yếu lòng, chưa đủ trí, thì cũng nên cầu khẩn Bề Trên mặc khải[1] và giúp sức cho mình theo đường chánh[2]. Vì Bề Trên chỉ giúp được những người sẵn lòng như thế đó mà thôi, chớ không thể giúp hạng người ích kỷ, cầu điều lợi riêng cho mình.
Trước kia, tôi nói mặc khải chớ không phải quyết định và giúp sức chớ không phải làm dùm, vì mỗi người còn giữ cái quyền tự do và chịu phần trách nhiệm của việc mình làm luôn. Còn người nào có đủ nghị lực, trí hóa mở mang, thì chỉ dùng cái tâm tánh thành thật, cái hành động chánh đáng (vậy mới là thiệt tinh thành) mà thi thố mọi việc như vậy hoài không mỏi (vậy mới là thiệt cảm động). Cho nên có câu: “Tâm chi chánh khả dĩ kiến thần”, nghĩa là: Lòng người minh chánh thì mới mong gặp đặng thần (giúp đỡ). Nghĩa này mới là nghĩa chơn chánh của tông giáo.
Hai chữ cảm ứng của Đạo giáo rất rộng. Nó bao quát từ tư tưởng kín nhẹm cho đến hành động rõ rệt, nghĩa là: nó gồm cả hai nghĩa khoa học hữu hình và vô hình với cái nghĩa chơn chánh của tông giáo giải trên kia.
II. CẢM ỨNG ĐỐI VỚI TRỜI.
Trời chẳng phải là Thần hay Người, mà là gốc sản xuất vô tận tất cả các thần, người và vật. Những tông giáo nào nhìn cho chúng sanh có chơn tánh bất sanh bất diệt, thì đều nhìn có Trời. Danh từ kêu gọi theo mỗi tông giáo tuy khác nhau mà vẫn chỉ có một cái Mãnh lực độc nhứt (Force unique) vận động Kiền Khôn thế giái đó thôi.
Phật gọi là Chơn như (bổn thể của võ trụ) hay là Pháp tánh[3], Tiên gọi là Đạo hay là Hư vô, Thánh gọi là Thiên hay là Thượng đế[4] .
Vì cái Mãnh lực này đầy dẫy cả không gian vô hạn, suốt thông cả thời gian vô hạn, cho nên người ta thường nói trong võ trụ đâu đâu, lúc nào, cũng có Trời, nghĩa là mỗi tư tưởng, mỗi lời nói và mỗi hành vi của con người, bất kỳ ở xứ nào, vào thời kỳ nào, đều có cảm động đến Trời cả.
Kinh Cảm Ứng tân chú có nói rằng: “Người thế hay chỉ xanh xanh trên kia mà gọi là Trời, chớ chẳng biết là khí của Trời, không tiếng không mùi, ở cùng trong khoảng không gian. Từ dưới đất lên tới không trung, trong cái sáng suốt trống lỗng kia đều có khí Hư vô, tức là Nguơn khí của Trời. (Phải biết khí trung hữu lý, lý trung hữu khí, nghĩa là trong khí Hư vô có Trời, Trời không lìa khí Hư vô).
“Con người thở ra thở vô[5], mỗi hơi thở đều có thông đồng với khí Hư vô của Trời. Cho nên niệm tưởng vừa phát động, tuy người phàm không hay biết, chớ Trời đã rõ thấu rồi.[6]
“Người ở trong khí mà chẳng tự biết là khí, cũng như cá ở trong nước mà chẳng tự biết là nước vậy. Hễ một niệm lành vừa động, thì hơi thở ra thông đồng với khí Hư vô, tức là khí thanh. Hễ một niệm dữ vừa động, thì hơi thở ra thông đồng với khí Hư vô, tức là khí trược. Khí thanh là thềm bước lên Thiên đường, còn khí trược là cửa đưa vào Địa ngục”.
Nguơn khí tức là cái bảng để biên chép những tư tưởng của người. Tư tưởng là vật vô hình (không thấy, không nghe) mà còn để dấu tích lại thay, huống chi là những việc người làm ra, hoặc nói ra, mà con mắt phàm thấy, lỗ tai phàm nghe!
Cuốn Phá Mê Tông Chỉ của Nho Đồng Lão nhơn lại nói rằng: “Con người ở giữa khoảng Trời Đất, lại bẩm thọ đồng một khí với Trời Đất, cho nên trên dưới giao thông. Trời Đất sanh hóa thạnh suy, cũng bởi lòng người chánh hay chẳng chánh mà ra. Hễ lòng người chánh thì khí âm dương của Trời Đất thuận. Khí âm dương của Trời Đất thuận thì xuân phát, hạ trưởng, thu thâu, đông tàng, khí ngũ hành vận hóa, bốn mùa theo thứ tự, muôn vật dễ sanh năm giống lúa, các thứ trái mới đủ chất bổ dưỡng. Phàm người ăn lúa, ăn trái ấy, tai tật cũng ít, thọ mạng cũng dài. Nếu lòng người tác tệ, trái lý muội mê, gây ra nhiều thứ nghiệt oan, hắc khí dẫy đầy trong võ trụ, khiến ra trên Trời chẳng thanh, dưới Đất chẳng yên, âm dương đảo ngược, khí ngũ hành chẳng hòa, bốn mùa sái thứ tự, muôn vật khó sanh, năm giống lúa, các thứ trái, do cái khí bất chánh mà kết quả. Người ăn vào hay sanh tật bịnh, mạng vắn chết yểu . . .
“Người thế tạo ra nhiều thứ nghiệt chướng, nên kết thành nhiều thứ tai họa, mới có hạn lụt, đói khát, ôn dịch, đao binh, v.v. . . , oan oan tương báo, chẳng phải Trời sanh hóa có chỗ suy bại, xuống cho tai họa bất nhơn, ấy là tại lòng người mê muội chơn lý mà tạo ra cho mình như vậy.”
Bên phương Tây có thuyết Thông Thiên Học (Théosophie) cũng nhận rằng: “Chúng sanh tạo nhiều tư tưởng ác, làm nhiều việc trái hẳn với luật Trời, nên mới có đao, binh, nước, lửa, mà không rõ lỗi mình, lại trở trách Trời hung bạo. Những tư tưởng ác, gom tụ lâu ngày một chỗ, rút thêm ác khí nơi khác (cũng như sắt có nam châm thì chỉ rút một loài kim như nó vậy mà thôi, kẻ ác thì chỉ lân la, rù quến kẻ ác mà thôi), càng lâu càng thêm sức mạnh, làm cho trở ngại sự điều hòa, hóa ra tai nạn gớm ghê.”
Trời hay về phần chung, ít dự đến việc riêng. Cho nên trong Đạo Đức Kinh mới có câu nói rằng: “Thiên Địa bất nhân”, nghĩa là: Trời Đất chẳng có lòng nhân. Chẳng có lòng nhân đây là chẳng có nhân với từng người, từng vật, chớ là tột nhân với toàn thể. Trời Đất cứ do một luật chung mà sanh hóa, trưởng thành hết thảy người vật.
Có một nhà bác sĩ Tây là ông Papus tỉ Trời như vị quan ba coi một chiếc tàu, cứ điều khiển bánh lái tàu để chạy cho tới nơi tới chốn mà thôi, chớ không xen dự vào việc nhỏ nhặt trong máy móc (tỉ võ trụ) và việc tư riêng của hành khách (tỉ người vật), hay là chỉ xen dự bằng một cách gián tiếp mà thôi[7] thì ý tứ cũng tương tợ với câu Đạo Đức Kinh trên kia.
III. CẢM ỨNG ĐỐI VỚI THẦN MINH.
Thần minh là những vị Thần Thánh Tiên y theo luật của Trời mà dìu dắt chúng sanh trên con đường tiến hóa.
Ở mỗi cõi thế giái, có một vị Thần chủ tể, nghĩa là lớn hơn các Thần khác, cũng gọi là trời. Nhưng chữ trời này nên viết chữ “t ” nhỏ cho dễ phân biệt với chữ Trời giải rồi trên kia, phải viết bằng chữ “T ” lớn.
Nếu có chúng sanh nào làm ác thì là đi nghịch với luật của Trời đã định, tức nhiên các vị thần minh phải làm cho họ thấy khổ, mới lo sửa đổi lại cho thuận.
Có kẻ gọi: “Vậy thì con người trên thế này mất hẳn quyền tự do sao?”- Lầm thay! Cũng vì không hiểu hai chữ tự do ấy mà sanh ra lắm điều khổ não. Sao lại không tự do? Song tự do là làm việc nào chẳng phạm đến luật kia, chớ cứ lấy cái lẽ tự do mà muốn phá hại thiên hạ được sao?
Người phương Tây có nói một câu rất lý thú rằng: “Ta thắng nổi Tạo Hóa là nhờ tùng phục”. Tùng phục đây là tùng phục luật Trời. Hễ biết tùng phục luật Trời rồi thì bất câu việc gì, chắc chắn như hai với hai là bốn vậy, ta sẽ đặng toại chí không sai. Tới đây, tuy là không cầu khẩn mà cũng có thần minh hộ trì, vì thần minh vô tư, cứ giữ mặt luật, hộ người lành, phạt kẻ dữ, không tư vị ai mà cũng chẳng binh vực ai.
Nam Hoa Chơn Kinh của Trang Tử nói rằng: “Vi bất thiện hồ, u nhàn chi trung giả, quỉ đắc nhi tru chi”, nghĩa là: Những kẻ làm việc chẳng lành, trong chỗ tối tăm (không ai thấy được), có quỉ thần được phạt chúng nó.
Theo lời Kinh Cảm Ứng của Đức Thái Thượng dạy thì thần minh có nhiều hạng:
1.Thiên Địa hữu Tư quá chi Thần (Trời Đất có thần coi về phần lỗi lầm). – Trên trời có Thiên thần, như thần Tam nguơn[8] ở thượng giái, v.v . . . dưới đất có Địa kỳ, như thần Ngũ nhạc[9] ở hạ giái, v.v . . . đều gồm coi hết về công cán và lỗi lầm, chớ chẳng phải coi về phần lỗi lầm không mà thôi. Lỗi lầm có khinh, có trọng, chư thần tùy theo việc phạm mà giảm toán[10] , phạt nghèo nàn, rầu lo, bị người ghét, vương hình họa, v.v…
2. Hựu hữu Tam thai Bắc đẩu Thần quân tại nhơn đầu thượng (lại có vì thần quân làm chủ ngôi Tam thai[11] và ngôi Bắc đẩu[12] ở trên đầu người) - Mấy vị Thần tư quá nói trên, ngày đêm tuần du, có lúc lại mà cũng có khi đi, chẳng phải ở thường xuyên một chỗ, nên có hồi chẳng ai giám sát đến, người ta đặng tạm yên ổn. Chớ còn vì Thần quân làm chủ ngôi Tam thai và ngôi Bắc đẩu, ở trên đầu người ta luôn luôn, thì có giờ khắc nào mà người trốn tránh đi được.
Con người ta, lúc vừa mới tượng thai trong bụng mẹ, đã có thọ khí Tam thai - Bắc đẩu rồi. Nhờ có khí này trong mình người, Tam thai - Bắc đẩu Thần quân ở trên trời chép ghi tội quá một cách tự nhiên, nên có cẩn nghiêm hơn chư thần tư quá. Hễ tội là điều phạm lớn thì đoạt kỷ[13], còn quá là điều phạm nhỏ thì giảm toán.
3. Hựu hữu Tam thi Thần tại nhơn thân trung (lại có Thần Tam thi[14] ở trong mình người). Mỗi ngày Canh Thân là ngày Thiên Thần phạt ác giáng tội, thì thần Tam thi thừa lúc người ngủ, lên Thiên tào tấu cáo tội quá của người. Bởi cớ mới có cái thuyết giữ ngày Canh Thân, trọn đêm chẳng ngủ. Nhưng dẫu có trảm tuyệt Tam thi đi nữa, mà không lo tu đức, thì cũng vô ích, vì chẳng phải hết ai giám sát. Vậy còn mấy hạng thần khác kia chi ?
Huống Tam thi là âm phách tự nhiên hóa ra. Trên trời mà nghe thần ở trong mình người, chánh là muốn coi người lập chí ra thể nào. Vì Tam thi dẫn người đi thuận mà trở xuống, còn Đại Đạo dạy người đi nghịch mà bước lên. Nếu kẻ hành đạo chẳng do nó mà luyện tâm tánh như người chèo ghe đương cơn gió ngược, thì làm sao mà biểu xuất được chơn tinh thần của mình.
4. Nguyệt hối chi nhựt, Táo Thần diệc nhiên (ngày tối trời không trăng - ngày 29 hay là 30 mỗi tháng - Táo Thần[15] cũng vậy) - Trong thân mình có thần Tam thi, còn trong nhà mình có Tư Mạng Táo quân, tới cuối tháng cũng lục tâu tội quá của mỗi nhà. Một thân mình làm lành, mà trong nhà có kẻ già, trẻ, gái, trai, còn gây tội lỗi, tức là tu thân mà chẳng tề gia, thì không sao khỏi bị lục tâu. Người quân tử muốn khuyên đời dạy dân, thì trước phải lo tề gia. Gia tề thì có một đoạn khí tường hòa xung lên thiên đình, có thể làm tiêu nổi kiếp vận, thiên tai trong vùng mình ở. Đặng vậy mới mong hưởng thọ và cầu đạo trường sanh chẳng khó.
Xem đây thì đủ biết trong chỗ u u minh minh, tuy mắt phàm không trông thấy được, mà đều có thần minh giám sát, chẳng lọt mảy hào.
IV. CẢM ỨNG ĐỐI VỚI NHƠN VẬT.
Sự cảm kích, sự xúc động là tự nơi người, mà lẽ báo ứng, có khi do Trời, có khi do thần minh, mà cũng có khi do nơi nhơn vật (nhơn sanh và muôn vật) nữa. Trong các kinh sách của Đạo giáo, đều có nói rõ về Trời, về thần minh, mà ít hay nói đến nhơn vật. Có lẽ là việc hiển nhiên trước mắt, ai cũng nghe cũng thấy, nên không cần luận cho dông dài chăng?
Nay tôi xin đem lẽ báo ứng do nơi nhơn vật mà nói luôn cho hoàn bị cái vấn đề cảm ứng này.
Trong đời mỗi xã hội đều có luật pháp, có luân lý, để giữ gìn trật tự, bảo thủ trị an. Về mặt luật pháp thì có quan viên chức sắc đứng ra thi hành, còn về mặt luân lý, cũng là luật mà luật ở trong tâm con người, thì để rộng cho mỗi người tự mình do nơi đó mà hành động, chớ chẳng có ai bó buộc.
Tỉ như người này thi ơn cho người khác, thì người khác có lương tâm xét nét. Hễ thọ ơn của người thì phải lo trả ơn cho người, chẳng ai kềm thúc mà bổn phận mình phải lo trả. Hoặc trong hàng vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bằng hữu, người này ở phải đạo với người kia, thì người kia sao cũng có lòng kính mến người nọ và ân cần đối đãi nhau cho xứng đáng. Đây là lẽ báo ứng về luân lý cang thường.
Còn như có kẻ hung bạo sát nhơn, theo luật pháp nhơn gian thì định phải thường mạng, nghĩa là phải bị trảm quyết. Nhưng nếu xét có tình hình giảm khinh thì bị tù rạc. Hoặc trộm cướp, đánh lộn,v.v . . ., mỗi việc đều có luật nhứt định phần phạt. Vì cá nhơn không đủ sức trả vay cho nhau, người yếu làm sao mà chống cự cho lại với người mạnh, kẻ đơn độc làm sao mà địch nổi với kẻ có phe đảng, nên cần phải có quan viên chức sắc thay mặt cho xã hội mà thi hành luật pháp để bảo thủ quyền lợi riêng của mỗi người. Đó là lẽ báo ứng về luật pháp xã hội.
Trong Kinh Cảm Ứng có câu: “Nhơn giai kỉnh chi”, nghĩa là: Người đều kỉnh hạng người đó; “Hựu uổng sát nhơn giả thị dịch đao binh nhi tương sát giả”, nghĩa là: Lại giết oan người ta thì như đổi gươm đao mà giết nhau vần công ( vì có kẻ sẽ giết lại mình). Nam Hoa Chơn Kinh cũng có nói rằng: “Vi bất thiện hồ, hiển minh chi trung giả, nhơn đắc nhi tru chi”, nghĩa là: Những ai làm việc chẳng lành, nơi chỗ quang minh (ai cũng thấy được) có người được phạt chúng nó. Mấy lời này đều thuộc về cái nghĩa nói trên kia, nghĩa là về lẽ báo ứng do nơi người.
Tuy có cái lẽ báo ứng tự nơi người thi hành, nhưng vì phàm nhơn mắc trong vòng hạn chế của xác thịt, khó mà rõ thấu hết các chỗ bí mật, ẩn vi, hoặc bị tình dục mờ ám lương tâm, hoặc bị lợi danh khêu gợi lòng ham muốn, cho nên không sao khỏi có phần khuyết điểm. Đến đây lại có thần minh, có Trời xét nét định phân mà gìn giữ luật công bình trong võ trụ. Cho nên có câu: Lưới người dễ lọt, lưới Trời khó lọt.
Trên đây là nói về nhơn sanh. Còn về muôn vật là nói hết thảy các vật hữu hình ở trong thế gian, gồm luôn loài hữu tình và loài vô tình, thì lẽ báo ứng cũng dễ thấy. Như bạo hổ (chụp cọp mà không dùng binh khí), bằng hà (qua sông mà chẳng có ghe thuyền), sự chết ở trước mặt chẳng đâu xa.
Ta nên chú ý: Món vật là loài vô tình, thì có trí hóa gì mà độ lượng. Con vật tuy có tri giác, mà sự khôn ngoan còn trong thời kỳ phôi thai. Con người có trí khôn ngoan khá hơn mà lại bị vật dục mờ ám. Thần minh sáng suốt hơn loài người. Còn Trời là Đấng thông linh cực điểm. Sự cảm ứng do nơi bực thấp thì sao khỏi lầm sai, thiếu sót, nên cần phải có hạng trên bổ cứu luôn luôn. Giả như: qua sông mà chẳng có ghe thuyền, dại thì chết đã đành. Còn thấy người té sông, có lòng tốt muốn cứu vớt, nhưng rủi bị nước chảy lôi cuốn, hụt chơn chết đuối, té ra vì việc nghĩa mà bỏ mạng thì cái luật “làm lành đặng phước ở đâu”? Tới đây có Trời, có thần minh ban ơn lành, bằng không vậy sao gọi là công bình?
Từ trước tới đây, có ba bài bàn về lý cảm ứng đối với Trời, đối với thần minh, đối với nhơn vật. Tuy chia ra có Trời, thần minh, nhơn vật cho dễ hiểu những điều đại khái, chớ kỳ thiệt nó dính líu với nhau rất mật thiết, có khi không để hẳn riêng ra được và khó mà hiểu thấu hết các chỗ tinh vi.
[1] Mặc: là lẳng lặng, không nói; khải: là mở, là dạy. Mặc khải: nghĩa là mở dạy thầm trong lòng, thầm xui (inspirer)
[2] Ông bác sĩ Paul Carton có nói rằng: “Elle (la prière) fait recueillir des inspirations sublimes et des forces spirituelles qui incitent sans décider, qui aident sans accomplir, car l’homme reste toujours libre et responsable de ses actes » (Les lois de la vie saine, page 39)
[3] Ông bác sĩ Isnard có nói rằng : "II serait inexact de penser que le Bouddhisme n’a point de premier principe, d’être suprême. Son Nirvana finit par se confondre exactement avec le Brahman du Védantisme", nghĩa là: Nếu tưởng rằng Phật giáo không có cái đệ nhứt nguyên lý, không có Đấng Chí Tôn chủ tể thì là lầm lắm. Cõi Niết bàn của Phật giáo giống hệt như ngôi Đại Phạm Thiên (ngôi tuyệt đích) của đạo Phệ Đà.
[4] Sách Tánh lý nói rằng: “Thi thơ trung phàm hữu cá chủ tể ý tứ giả, giai ngôn đế; hữu cá bao hàm biến phúc để ý tứ, tắc giai ngôn thiên ", nghĩa là: Trong kinh Thi, kinh Thơ, phàm có ý gì nói về chủ tể, đều gọi là Đế (Chúa); có ý gì nói về bao trùm che khắp thì đều gọi là Thiên (Trời).
Trời hay là Chúa chỉ là cái Lý Bổn Nhiên rất linh diệu, rất cường kiện, chớ chẳng phải là một đấng có hình dáng, có tình cảm hay là tư dục như người ta, theo kẻ thường tưởng tượng.
[5] Con người thở ra thở vô chẳng phải bằng miệng mũi mà thôi, lại còn thở bằng lỗ chơn lông theo da cùng khắp châu thân nữa.
[6] Mỗi niệm tưởng phát ở trong tâm do hơi thở mà chạy ra, làm rung động khí Hư vô ở ngoài, thì làm sao Trời lại không hay biết cái niệm tưởng ấy. Các nhà khoa học đời nay, sau khi nghiên cứu rất tường tận, đều công nhận sự rung động nói đây (Expérience de l’impression produite sur les plaques photographiques par les pensées d’un homme enfermé dans une chambre bien close et soustraite à toute influence intérieure et extérieure).
[7] Ainsi le capitaine du steamer, qui agit sur le gouvernail de son navire, vogue vers le but du voyage sans intervenir dans le détail de la machinerie motrice (image de la Nature) ou dans les occupations des passagers. Le capitaine gouverne circonférentiellement le système général, il n’a que faire de ce qui se passe à I’intérieur des cabines.
Cependant I’action du capitaine s’exerce sinon immédiatement, du moins médiatement:
1.Sur la machinerie, par le porte-voix;
2.Sur les voyageurs par les règlements de bord élaborés par le capitaine (Traité élémentaire de science occulte, p. 285).
[8] Tam nguơn là: Thượng nguơn Thiên quan, Trung nguơn Địa quan, Hạ nguơn Thủy quan.
[9] Ngũ nhạc là: Đông nhạc, Nam nhạc, Tây nhạc, Bắc nhạc, Trung nhạc.
[10] Toán là một trăm ngày.
[11] Tam thai là ba thai: Thượng thai, Trung thai, Hạ thai, mỗi thai có hai vì sao, cộng chung là sáu vì sao.
[12] Bắc đẩu có bảy vì sao là: Tham lang, Cự môn, Lộc tồn, Văn khúc, Liêm trinh, Võ khúc, Phá quân. Ngoài ra có hai vì sao ẩn mà chẳng hiện là Ngoại phụ, Nội bật, cộng chung là chín vì sao.
[13] Một kỷ là 12 năm.
[14] Tam thi tức là tam Bành: Bành Kiêu, Bành Chất và Bành Cứ coi thượng tiêu, trung tiêu và hạ tiêu ở trong mình người, trú tại tam quan là: Vĩ lư, Giáp tích, Ngọc chẩm. Cũng gọi là tam độc.
[15] Các vì Táo quân này tùng lịnh của đức Quảng Huệ Táo Quân hoặc gọi là Toại Hoàng đại đế, là một vì thần rất lớn ở trên trời. Nhà nào cũng có Táo Thần, tỉ như đâu có nước thì có dọi bóng trăng vậy.
Top