Minh Lý Đạo Tam Tông Miếu là một trong những chánh thể thuộc Tiên Thiên Đại Đạo, ra đời năm 1924 ở Việt Nam, có tôn chỉ dựa theo giáo lý của ba tôn giáo lớn ở Đông Nam Á là Lão Giáo, Phật Giáo và Khổng Giáo.
Ba chữ Minh Lý Đạo có rất nhiều ý nghĩa bao gồm cả lý thuyết và thực hành tu thân hành đạo. Hiểu theo cách đơn giản nhất là: Minh (động từ) là làm cho sáng tỏ, Lý là Lẽ Thật tuyệt đối, Đạo là con đường. Như vậy, Minh Lý Đạo là con đường làm sáng tỏ Lẽ Thật tuyệt đối.
Kinh Bố Cáo của Đạo Minh Lý giải nghĩa ba chữ Minh Lý Đạo như sau:
Đạo là căn bổn khá tầm mò,
Minh mẫn lương tâm cạn xét dò.
Lý ấy tánh chơn vô nhị thị,
Giải phân họa phước chẳng so đo.
Tiêu ngữ của Minh Lý Đạo là BÌNH ĐẲNG – CỘNG TÁC – HÒA ÁI
Đạo Minh Lý được thành lập dựa trên ba nguyên tắc cốt lõi:
1. Tam giáo hiệp nhứt:
Mục đích, Tôn chỉ và Lập trường của Đạo Minh Lý
Mục đích: Dạy việc tu hành để tự độ (tự giải thoát) và độ tha (giúp người khác giải thoát); tự giác (tự mình giác ngộ), giác tha (giúp người khác giác ngộ). Hướng tới việc thánh hóa con người, đạt được giải thoát và giác ngộ hoàn toàn, như bài Bố Cáo có nói: "Lập Thánh thất, tìm kinh văn, Để qui người biết ăn năn tu hành".
Tôn chỉ: Dung hòa mọi tín ngưỡng, xu hướng cộng đồng, tổng hợp mọi đường lối để chỉ còn một đạo, một tâm. Người Minh Lý phải mở rộng lòng mình, xích lại gần nhau, không phân biệt địa phương hay màu sắc, giữ đúng tinh thần "Thất MINH LÝ nền chung các đạo".
Lập trường: Thuần túy tu hành, không bị chi phối bởi tư tình hay tư lợi, tránh để thánh đức bị phàm tục hóa.
Kiến trúc và thờ phượng
Minh Lý Đạo Tam Tông Miếu chỉ dùng bài vị nêu hồng danh Phật, Tiên để thờ cúng, chiêm ngưỡng, chớ không dùng hình tượng.
Dùng tiếng Việt để tả Kinh và tụng niệm.
Kiến trúc của thánh sở Minh Lý Đạo (số 82 Cao Thắng, phường Bàn Cờ, Tp. HCM) gồm ba phần được xây dựng theo thuyết Tam (3) Ngũ (5) Nhứt (1) của Đạo Gia.
Phần ngoài cùng gọi là Ngũ Hành Đài, gồm ba tầng ứng với Tam Cực và năm mái ứng với Ngũ Chi Đạo, như sau:
1. Tầng trệt: Bàn thờ Môn Quan Thổ Địa.
2. Tầng lầu thứ nhứt: Tàng Kinh Thất (chứa kinh sách).
3. Tầng lầu thứ nhì: Hồng Chung Sở (nơi có chuông lớn).
4. Tầng lầu thứ ba: Vọng Thiên Đài (hình bát giác) biểu thị như một cái chuông đánh vọng lên mà thúc giục quần chúng đang muội mê hãy sớm tỉnh mộng. Vọng Thiên Đài có tám mặt với các bông gió là tám chữ Kiến, Tư, Ngữ, Nghiệp, Mạng, Tiến, Niệm, Định của Bát Chánh Đạo (chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tiến, chánh niệm, chánh định).
5. Cột phướn (pháp tràng).
Phần giữa gồm ba mái, gọi là Tam Cực Linh Đài, là nơi môn sanh Minh Lý thực hiện nghi lễ.
Phần trong cùng là một mái vòm bán nguyệt gọi là Châu Thiên Đài, tại đây có một bệ đá cẩm thạch năm cấp, thờ hồng danh các Đấng Thiêng Liêng và một bàn thờ ba cấp để bày các phẩm vật dâng cúng (tế phẩm).
Kiến trúc này tượng trưng cho nguyên tắc lập đạo của Minh Lý Đạo (là Nho, Thích, Đạo hiệp nhứt) và nguyên tắc tu tịnh của môn sanh (là Tam Ngũ hiệp nhứt).
Ngoài Thánh sở Tam Tông Miếu, Minh Lý Đạo còn các cơ sở thờ phượng khác như Bác Nhã Tịnh Đường (xã Long Hải, Tp. HCM), Thánh miếu Long An (phường Khánh Hậu, tỉnh Tây Ninh) và Báo Ân từ (phường Hòa Bình, Tp. HCM).
Top