Lịch sử hình thành Minh Lý Đạo
Đạo Minh Lý ra đời từ năm Giáp Tý (năm 1924), đến nay là 102 năm, nhiều thế hệ môn sanh tiếp nối công cuộc xây dựng Minh Lý Đạo, hoàn thiện tổ chức, học tập, trau dồi đạo đức và tu thân. Minh Lý Đạo đã trải qua các thời kỳ như sau:
1. Thời kỳ thứ nhứt (1924-1964): Chỉnh cơ lập pháp và tổ chức hữu hình 1.1. 16 năm đầu (1924-1940): có thông công
Từ cuối thế kỷ 18, trong nước ta có nhiều đàn cầu Tiên Phật, mà sự tín ngưỡng của thiên hạ hãy còn mơ màng. Họ chỉ đến hầu đàn cầu thuốc, hay hỏi về việc danh lợi mà thôi, chớ ít ai để ý về mặt đạo đức.
Thời kỳ này Thần Tiên dùng Huyền Cơ gieo tín ngưỡng, sau mới dùng Thần Cơ để tổ chức các việc hữu hình của một tôn giáo cho đạo Minh Lý.
Đầu những năm 1920, một nhóm bảy công chức và tư chức thường hội hiệp nhau, mỗi tháng mỗi người bỏ ra hoặc năm đồng, hoặc ba đồng, để làm vốn in kinh phổ thông phát không trong xứ, cốt yếu để cầu phước báu mà thôi. Lần lần, các ông phát tâm nghiên cứu các kinh Tam giáo đạo.
Kế sau nữa, theo phong trào đương thời, có người trong nhóm tập làm đồng tử để cầu Phật Tiên dạy Đạo. Ông tập được Huyền cơ, mọi người trong nhóm bắt đầu tin chắc trong cõi thế giới vô hình, quả thật có Trời Phật Tiên Thánh, không còn ngờ vực gì nữa. Người đồng tử đó là Ông Âu Kiệt Lâm, Thánh danh Minh Chánh, sau này, khi chùa Tam Tông Miếu được xây dựng, ông là vị Chủ trì đầu tiên của chùa.
Một đêm, có một vị đạo hữu ở một đàn khác đặng lịnh Bề Trên đến báo tin rằng: “Đã tới ngày giờ, các ông phải lập đàn cho Bề Trên giáng dạy Đạo”. Được biết thời kỳ này Ơn Trên thường hay giáng chỗ này nhưng dạy về việc ở chỗ khác, truyền phải mang tới địa chỉ được ghi trong Thánh ngôn, để tăng lòng tin của mọi người.
Ngày đặng lịnh khai đàn là ngày 26, tháng 11, năm Giáp Tý (năm 1924), lúc 22 giờ. Nhưng đến khi khai đàn chánh thức là đã đến 23 giờ (giờ Mậu Tý), bước qua ngày 27 là ngày Bính Tý, tháng 11 cũng thuộc Bính Tý. Đức Đạo Tổ Thái Thượng Lão Quân giáng, ban cho hiệu đạo là Minh Lý và bài kinh Tặng Ngọc Đế. Ngài dạy rằng: “Chư nhu tụng kinh chữ, không thông nghĩa lý, nên Ta cho kinh nôm...”. Đây là ngày chính thức được chọn làm ngày Lễ Kỷ niệm khai đạo Minh Lý và nhóm bảy ngài nói trên là các tiền bối khai Đạo.
Từ đây, các Đấng Thiêng Liêng thường về ban kinh, dạy cách tổ chức, hoạt động, tu hành và hình thể kiến trúc của chùa Tam Tông Miếu.
Thời kỳ đầu chưa có chùa, các bậc tiền bối khai Đạo mỗi lần cúng cầu an thì hội hiệp nhau tại nhà của một vị và xoay vòng. Sau, có mượn chùa Linh Sơn Tự để hành lễ cúng Trời Phật, nên phải cúng vào khuya ngày 14, 30 hàng tháng vì ngày mồng 1 và 15 thì chùa Linh Sơn Tự cúng. Cho đến ngày nay, Minh Lý Đạo vẫn giữ lệ cúng cầu an như thế.
Năm 1925, Đức Đạo Tổ dạy phải lập một ngôi chùa, Minh Lý Đạo xây dựng ngôi Tam Tông Miếu và chuyển về chùa mới năm 1927. Sau hai lần trùng tu lớn vào năm 1941 và 1957, chùa có hình thể như ngày nay.
Năm 1926, Đức Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn ban cho hiệu chùa là Tam Tông Miếu với ý nghĩa:
Vậy, Tam Tông Miếu tức là đền thờ ba tông giáo Nho, Đạo (Tiên), Phật. Thờ ba giáo là cốt để tìm cái nguồn cội ngõ qui về Đạo Một, ngôi Nhứt, là Thượng Đế.
1926 Đăng ký với chính quyền sở tại lập Hội tương tế tu thân Tam Tông Miếu và được chuẩn y vào 1927.
1926 Lập nghĩa trang Tam Tông Miếu, nay là Báo Ân Từ tại 445/20 Lạc Long Quân do hội viên từ thiện là bà Diệu Trí Huỳnh Thị Ngôn hiến cúng.
1926 Lập tiệm tạp hóa bán đồ chay Hiệp Ích.
1927 Lập Tặng Dược thất để phát thuốc chữa thời khí rồi sau đó 1928 là Thất Trị Bệnh để chữa trị miễn phí.
1927 Lập Phát kinh viện để phát sách ấn tống và cho mượn sách đọc tại chỗ.
1927 Có làm lịch âm dương có chua thêm các ngày vía, tiền thân của lịch Tam Tông Miếu sau này.
1930 Lập nhà in Tam Tông, Đức Môn thư xã, cất nhà cho thuê, mở trường dạy miễn phí học sinh nghèo.
1.2 24 năm kế (1941-1965): Tự tu học - Nghiên cứu Kinh sách Tam giáo
Năm 1941, đồng tử Minh Chánh quy tiên nên đường thông công đứt đoạn. Chư môn sinh phải tự tu học, tài chính của chùa kiệt quệ, đạo hữu người về quê, người không giữ được đức tin, cơ đạo chinh nghiêng, ... Tuy vậy, một số người trung kiên còn ở lại, theo phương pháp của Thần Tiên chỉ dạy, biết lợi dụng lúc rảnh rang, không cầu đàn, ít lễ cúng, trùng tu ngôi Tam Tông Miếu, tự dịch kinh sách để học, nghiên cứu phát triển việc làm lịch Tam Tông Miếu có hiệu quả ... để tạo tài lực cho các bạn đồng tu sinh sống.
Chính trong thời kỳ này, Ngài Định Pháp Nguyễn Minh Thiện (1897-1972) đã phế bỏ việc đời để chuyên tâm lèo lái mối Đạo. Ngài kết tập Thánh ngôn, viết sách, dịch Kinh, trùng tu Thánh Miếu, hướng dẫn môn sanh theo con đường chánh nghĩa chơn tu, đúng theo chơn truyền Đạo pháp của Minh Lý mà Ơn Trên đã dạy.
Trời Phật ủng hộ người lành, nên việc chi cũng đặng thành tựu theo ý nguyện. Thật là: “Nhơn hữu thiện nguyện, thiên tất tùng chi”.
Thời kỳ nầy, gọi là thời kỳ nghiên cứu kinh sách Tam giáo.
Trong thời gian nầy, Ngài Minh Thiện đã biên soạn cuốn giáo lý làm nền tảng cho Minh Lý Đạo là Minh Lý Học Thuyết, để cho môn sanh theo đó mà tu học.
1952 Tái lập ban Nữ phái
1957-1961 Xây mới Tam Tông Miếu
1961 Thành lập trường tiểu học Xuân Phong, với học phí phải chăng để con nhà nghèo có nơi học.
Ngài Minh Thiện đã nghiên cứu cải tiến Lịch Tam Tông Miếu, nổi tiếng khắp miền Nam Việt Nam do có dự báo thời vụ chính xác để nông dân trồng trọt và mỗi ngày đều có ghi châm ngôn khuyến tu hành thiện, không mê tín.
2. Thời kỳ thứ hai (1965-1972): Khai Cơ Giáo Pháp
Thời kỳ nầy có dấu mốc lịch sử của toàn Đạo. Một ngày trọng đại mà mỗi môn sanh Minh Lý đạo khắc cốt ghi tâm: Ngày mồng 8 tháng Chín năm Ất Tị (2.10.1965), Đức CHÍ TÔN, TAM GIÁO TỔ SƯ, CHƯ PHẬT TIÊN THÁNH THẦN lâm đàn chứng lễ khai kinh Cầu Nguyện và ban quyền, ban pháp.
KHỔNG môn đệ tử dựng xây đời,
THÁNH đức còn chờ đến một mơi.
TIÊN Phật lâm phàm khai Chánh Pháp,
SƯ đồ gắng bước trở về ngôi.
Đức KHỔNG THÁNH TIÊN SƯ dạy rằng: “Cơ Đạo đang chờ các hiền đồ trau tâm sửa hạnh, để thừa hành thiên đạo”.
THÁI bình chờ đợi các môn sanh,
THƯỢNG đạt làm cho sáng Đạo lành.
LÃO luyện tinh thần nên quả giác,
QUÂN minh trị thế Đạo lưu hành.
Tiếp đến Đức THÁI THƯỢNG LÃO QUÂN loan báo “Đức CHÍ TÔN giá lâm ban quyền, ban pháp cho chư đệ tử hầu đủ sức dẫn bước đưa đường cho nhân loại trong lúc giao thời, để mở màn một kỷ nguyên an lành cho hậu thế”.
NHƯ như mới được phép vô sanh,
LAI đáo trần gian tiếp kẻ lành.
PHẬT pháp trùng hưng đưa khách tục,
TỔ thừa sứ mạng tỉnh đời manh (mê).
Đức NHƯ LAI PHẬT TỔ lâm đàn dạy rằng: “Một hồng ân lớn lao cho nhơn loại. Trong lúc đời loạn Đạo suy, mà được Chánh Pháp tái lập để cứu rỗi toàn linh. Đức Như Lai Phật Tổ hân hoan trông thấy cuộc thế ngày mai đang chớm nở: những mầm sống nơi lòng các đệ tử hiện đang rải rác ở khắp nơi. Kẻ đã mang chịu mạng Trời lo đường giải thoát, kẻ còn tiềm ẩn chờ tiếng gọi ở lòng. Thời pháp đã vang dội xa gần, hoặc ở đây, hoặc ở nhiều nơi, trong nhà ngoài nước”.
Và Đức CHÍ TÔN lâm đàn dạy Đạo cho Minh Lý môn sanh:
NGỌC quí Thầy trao xúm giữ gìn,
HOÀNG ân quyền pháp để lòng tin.
THƯỢNG hòa hạ mục ơn còn lắm,
ĐẾ đạo hoằng khai trẻ gắng bền.
Kể từ đây, Đức CHÍ TÔN và TAM GIÁO ĐẠO CHỦ chính thức hoằng khai TÂN PHÁP MINH LÝ ĐẠO.
Đến đàn cơ ngày 6 tháng 10 năm 1965, nhằm ngày 12 tháng 9 năm Ất Tỵ, Đức ĐÔNG PHƯƠNG LÃO TỔ dạy: “Từ đây trở đi, Minh Lý không còn ở trong phạm vi đoàn thể, hiệp hội, mà đã thành một GIÁO HỘI TRUNG TÔNG ĐẠI ĐẠO”.
Cũng trong năm 1965, Ơn Trên có chuyển đồng tử đến giúp cho đạo Minh Lý. Trước tiên, Ơn Trên dạy Dịch Lý Châu Dịch Huyền Nghĩa, giải về quẻ Phục, quẻ Tùy, quẻ Thái, quẻ Kiền, quẻ Khôn, quẻ Thiên Lôi Vô vọng. Kế tiếp dạy nhiều quẻ khác nhằm làm rõ thêm nghĩa đạo lý Tiên Thiên.
Trong thời kỳ nầy, Ơn Trên ban cho hai bộ kinh rất quan trọng là Minh Lý Chơn Giải và Đạo Học Chỉ Nam làm kim chỉ nam cho phương tu của Minh Lý Đạo. Riêng Đạo Học Chỉ Nam không chỉ vạch ra một lối tiến đồng nhứt về Đạo học cho môn sanh Minh Lý, mà còn là “Bửu kinh để cho đời làm phương châm tu thân xử thế!” Đức ĐÔNG PHƯƠNG LÃO TỔ dạy ngày 4 tháng 2 Tân Hợi (28-2-1971).
Năm 1966-1971, Ngài Minh Thiện đã xây dựng Bác Nhã Tịnh Đường làm nơi tu học cho toàn đạo và Đại Đạo tương lai, “là chỗ công cộng cho các đạt nhân chí đức, làm nơi lập địa tu hành” theo Thánh ngôn của Đức Thánh Trần Hưng Đạo ngày 1 tháng 4 năm 1971.
1969 Thành lập đoàn Thanh Thiếu Nhi Minh Lý.
1972 Thành lập Nữ đồ để điều hành ban Nữ phái, trông coi đoàn Thanh Thiếu Nhi Minh Lý là mầm đạo tương lai. Từ đây Nữ phái có quyền pháp tham gia đạo sự cùng Nam phái.
Ấn tống các kinh sách đã dịch: Đạo Đức kinh, Thanh Tịnh kinh, Huỳnh Đình kinh... và kết tập: Minh Lý Chơn Giải, Chu Dịch Huyền Giải, Đạo Học Chỉ Nam, Bác Nhã Khai Môn.
1969 Thành lập phòng khám bệnh từ thiện do ông Khai Tâm quản lý.
1966 Quản lý hai trường học do Hội Bình Dân Học Hiệu trao lại.
3. Thời kỳ thứ ba (1975 đến nay): Phát Huy Minh Lý Đạo
Nước Việt Nam đã được thống nhất, nền Đạo sống trong an bình. Các môn sanh vẫn trung kiên tu học theo các phương pháp của Thần Tiên và Ngài Định Pháp Minh Thiện đã chỉ dạy.
Kế thừa Đạo nghiệp của các bậc Tiền khai, tuân theo Pháp môn, Tôn chỉ, Mục đích của Đạo, dù có những giai đoạn hết sức khó khăn cả tài lực, vật lực và nhân lực, nhưng với lòng chí thành tu học, hành đạo và sự lèo lái vững chắc của các bậc Minh sư, con thuyền Minh Lý đã vượt qua mọi trở ngăn để vững vàng tiến ra đại dương bao la, nhịp nhàng sánh vai cùng các Tôn giáo lớn trên cả nước.
Ngày 17/8/2007, Ban Tôn Giáo Chính Phủ cấp đăng ký hoạt động tôn giáo cho Minh Lý Đạo Tam Tông Miếu.
Ngày 01/10/2008, Ban Tôn Giáo Chính Phủ ban hành Quyết định số 195/QĐ-TGCP công nhận về tổ chức tôn giáo của Minh Lý Đạo - Tam Tông Miếu, hoạt động ở Thành phố Hồ Chí Minh, Long Hải, Long An. Minh Lý Đạo là một trong mười sáu tôn giáo ở Việt Nam được công nhận đợt đầu tiên.
Đây là Thời kỳ Phát huy của Đạo Minh Lý kể từ sau khi Ngài Minh Thiện qui tiên, qua tinh thần người trên hướng dẫn người dưới cùng tự tu học trên tình huynh đệ, nghĩa đồng đạo, đồng tâm nhất trí cùng theo đúng pháp môn và tôn chỉ của Minh Lý Đạo.
Các hoạt động đạo sự mọi mặt được mở rộng và phát triển, như:
Top